Hoàn cảnh địa lí, không gian Văn hoá và các vùng văn hóa Việt Nam


2.3.1 Văn hoá chịu sự chi phối đáng kể của hoàn cảnh địa lí – khí hậu.  Hoàn cảnh địa lí – khí hậu Việt Nam có ba đặc điểm cơ bản: xứ nóng - mưa nhiều; vùng sông nước - dấu ấn sâu đậm trong tinh thần văn hoá khu vực này; nơi giao điểm – ngã tư đường - của các nền văn hoá, văn minh.

2.3.2 Không gian văn hoá có tính lịch sử nên không đồng nhất với không gian lãnh thổ mà rộng hơn.

Trong phạm vi hẹp, không gian gốc của Văn hoá Việt Nam nằm trong khu vực cư trú của người Bách Việt - Có thể hình dung nó là một tam giác với cạnh đáy là sông Dương Tử và đỉnh là vùng Bắc trung bộ Việt Nam - cái nôi của nghề lúa nước + đúc đồng + bờ cõi đất nước họ Hồng Bàng trong truyền thuyết.


Ở phạm vi rộng hơn, không gian văn hoá Việt Nam nằm trong khu vực cư trú của người Indonésien lục địa - Có thể hình dung nó là tam giác với cạnh đáy vẫn là sông Dương Tử, đỉnh là vùng Đồng bằng Sông Cửu Long phía Nam.

Xét từ trong cội nguồn, không gian văn hoá Việt Nam vốn được định hình trên nền của không gian văn hoá khu vực Đông Nam Á - Có thể hình dung như một hình tròn bao quát toàn bộ Đông Nam Á lục địa và hải đảo; đây vốn là địa bàn cư trú của người Indonésien cổ đại nói chung - sự thống nhất cao độ của vùng văn hoá Đông Nam Á. Mặt khác, do vị trí đặc biệt, Việt Nam là nơi hội tụ đầy đủ nhất những đặc trưng của văn hoá khu vực – “Việt Nam là một Đông Nam Á thu nhỏ”.

2.3.3 Sự thống nhất do cùng cội nguồn đã tạo ra bản sắc chung của văn hoá Việt Nam, còn tính đa dạng của các tộc người lại làm nên những bản sắc riêng của từng Vùng Văn Hoá.

Lãnh thổ Việt Nam có thể phân thành 6 vùng (theo Trần Quốc Vượng – 1997):

1) Vùng văn hoá Tây Bắc: khu vực có hệ thống núi non trùng điệp; có 20 tộc người cư trú – Thái, Mường là chủ yếu; hệ thống mương phai ngăn suối và dẫn nước vào đồng là biểu tượng của vùng cùng với nghệ thuật trang trí trên trang phục phụ nữ H’Mông, nhạc cụ bộ hơi (khèn sáo…) và những điệu múa xoè…

2) Vùng văn hoá Việt Bắc: núi non hiểm trở bên tả ngạn sông Hồng; dân Tày, Nùng chủ yếu;  lễ hội lồng tồng (xuống đồng)…

3) Vùng văn hoá Bắc Bộ: tam giác bao gồm châu thổ sông Hồng, sông Thái Bình và sông Mã; cư dân Việt; đất đai trù phú – nôi của văn hoá Đông Sơn thời thượng cổ, văn hoá Đại Việt thời trung cổ…

4) Vùng văn hoá Trung Bộ: dãy đất hẹp, chạy dài từ theo ven biển từ Quảng Bình tới Bình Thuận; khí hậu khắc nghiệt, khô cằn - con người cần cù, hiếu học; cư dân thạo nghề đi biển và thích ăn cay; người Chăm với kiến trúc Tháp Chàm…

5) Vùng văn hoá Tây Nguyên: nằm trên sườn đông của dãy Trường Sơn, trung tâm là 4 tỉnh Gialai, Kontum, Đắclắc, Lâm Đồng; 20 tộc người Môn-Khmer và Nam Đảo cư trú; vùng văn hoá đặc sắc với những trường ca và lễ hội đâm trâu, nhạc cụ cồng chiêng…

6) Vùng văn hoá Nam Bộ: nằm trong khu vực sông Đồng Nai và hệ thống sông Cửu Long; khí hậu hai mùa (mưa-khô); mênh mông sông nước và kênh rạch; cư dân Việt, Hoa, Chăm đến khai khẩn + dân bản địa (Khmer, Mạ, Xtiêng, Mnông…); nhà có khuynh hướng trải dài ven kênh, lộ; bữa ăn giàu thuỷ sản; tính cách ưa phóng khoáng, tín ngưỡng tôn giáo phong phú, đi đầu trong hội nhập văn hóa phương Tây…

Mối liên hệ mật thiết với Đông Nam Á và tính thống nhất trong sự đa dạng do tuyệt đại bộ phận cư dân đều bắt nguồn từ cùng một gốc nhân chủng, ngôn ngữ và văn hoá – cơ sở làm nên sự khu biệt cơ bản giữa văn hoá Việt Nam với Trung Hoa.

Author: Triết học+

Mô tả ở đây

YOU MAY LIKE:


hghghghghghghghghgh
-->