Tư tưởng chính trị phương Tây cổ đại

 a) Đặc điểm lịch sử xã hội – chính trị 
Lịch sử tư tưởng chính trị Hy Lạp cổ đại gắn bó hữu cơ với quá trình tiến hóa xã hội và nhà nước Hy Lạp chiếm hữ nô lệ. Sự ra đời, củng cố và hưng thịnh, cuối cùng là suy tàn của nhà nước chiếm hữu nô lệ ở Hy Lạp luôn gắn liền với cuộc đấu tranh giai cấp. 

Chính trị đã xuất hiện với tư cách là một trong 17 những lĩnh vực kiến thức nhằm định hướng cho việc điều hành những công việc phức tạp của quốc gia. Vào thế kỷ IX – VIII TCN, nền sản xuất chiếm hữu nô lệ ở Hy Lạp phát triển cao. Nhân loại chuyển từ đồ đồng sang đồ sắt. Việc xuất hiện các quan hệ tiền hàng đã làm cho thương mại và trao đổi hàng hóa được tăng cường. Lãnh thổ của Hy Lạp được mở rộng thuận lợi cho việc giao lưu kinh tế văn hóa với các dân tộc khác. Sự phát triển của sản xuất đã dẫn đến việc các quan hệ và tổ chức xã hội bị đảo lộn. 

Nếu trước đây là hình thức tổ chức xã hội cũ như bộ tộc, bộ lạc thì giờ đây tư tưởng tư hữu và sau đó là chế độ tư hữu về của cải xuất hiện. Phân công lao động phát triển, xã hội xuất hiện tầng lớp chuyên sống bằng chí óc tạo điều kiện nảy sinh những tư tưởng chính trị. 

Sự mâu thuẫn giữa chủ nô dân chủ và giới chủ nô quí tộc mâu thuẫn với những tầng lớp trong nhóm đó. 

+ Phái dân chủ cho rằng phải đập tan chế độ chuyên chế độc tài của tầng lớp quý tộc giải phóng khỏi sự nô dịch của giới quý tộc cũ. 

+ Giới quí tộc muốn duy trì trật tự cũ và bằng mọi cách bảo vệ đặc quyền của mình. Chế độ sở hữu cá nhân được thừa nhận và không thay đổi, chế độ nô lệ được coi là tự nhiên phải có. Mâu thuẫn giai cấp cơ bản của xã hội chiếm hữu nô lệ được hình thành là mâu thuẫn giữa nô lệ và chủ nô. Trong quá trình đấu tranh đó nhiều quan niệm về sự bình đẳng, tự do đã nảy sinh. 

b) Các nhà chính trị tiêu biểu. 
Herodot (480 – 425 TCN) 
Thời cổ đại ông được mệnh danh là “Người cha của chính trị học”. Ông phân biệt so sánh các loại hình chính phủ khác nhau và tìm ra những ưu và khuyết điểm của mỗi loại thể chế. Ông so sánh ba loại thể chế khác nhau: Quân chủ trị: Quyền lực nằm trong tay một người và theo ông đây là một chính phủ không được tổ chức tốt vì nó không để cho người khác phản kháng, cãi lại cái mà người đó muốn. Nó làm bại hoại lương chi của những người ưu tú mà tôn sùng sự phỉnh nịnh, ghen ghét với những người cao quý. 

Do đó ông kịch liệt phê phán nền quân chủ. Quý tộc trị: là thể chế được thiết lập khi tuyển chọn được một hội đồng có chủ quyền tối thượng để cầm quyền nhà nước, bao hàm những người ưu tú nhất của đất nước. Có sự bàn bạc, cọ sát của hội đồng các nhà thông thái, tinh hoa về trí tuệ và phẩm chất, vừa tránh được độc tài quân chủ vừa tránh được đám đông không hiểu biết tham gia nắm chính quyền. Nhưng cuối cùng lại có sự tranh giành, tàn sát lẫn nhau, mưu toán quyền lực và lợi ích cá nhân, chia bè phái và chế độ một ông vua lại tái phát. 

Dân chủ trị: Thể chế được thiết lập do số đông nhân dân nắm quyền lực. Đó là con đường chống độc tài, qua bỏ thăm để 18 trao những chức vụ công cộng một cách đúng đắn và ngăn cản được sự lợi dụng quyền lực. Quản lý xã hội trên nguyên tắc “tất cả đều bình đẳng trước pháp luật và tự do phát biểu đề xuất”. Nhưng dân chúng thường không hiểu biết thì dễ bầu ra sự không hiểu biết dân chúng không hiểu biết, dễ lung lay kích động bởi các nhà cầm quyền, xã hội lậi dễ rơi vào trạng thái bè phái vô chính phủ từ đó chế độ một vua lại tái phát. Ông đã chỉ ra những loại hình thể chế khác nhau, làm cơ sở cho chính trị học và đi tìm một loại thể chế chính trị tốt hơn khác phục những nhược điểm của các lại thể chế chính trị đó. 

Xênôphôn (427 – 355 TCN) 
Điều chủ yếu trong tư tưởng chính trị của Xênôphôn là quan niệm về thủ lĩnh chính trị. Ông cho rằng, việc làm chủ nghệ thuật chính trị là trình độ cao hơn mà con người có thể đạt tới. Theo ông ai là người nhận thức được các vấn đề chính trị sẽ trở thành người trung thực, người tốt. Ai ngu dốt về điều đó sẽ trở thành hàng nô lệ. Theo ông thủ lĩnh chính trị phải là người biết chỉ huy, đó không phải là một người được quần chúng bầu ra, cũng không phải là những người được chỉ đinh bằng bỏ thăm, cũng không phải là người chiếm đoạt quyền lực bằng bạo lực, các thủ lĩnh là những người biết chỉ huy. 

Do đó, là thủ lĩnh, du địa vị của họ thế nào nhưng phải là người có sự cao hơn. Tóm lại người ta bằng lòng nghe theo những người mà người ta đánh giá là cao hơn Người thủ lĩnh được người ta chấp nhận mình, giống như người cầm lái trên con tàu đang gặp nguy khốn, như người thầy thuốc đang ở đầu giường. Thủ lĩnh phải là người giỏi thuyết phục, hùng biện, nói phải đi đôi với làm. Mặt khác sự thuyết phục của thủ lĩnh ở đây phải dựa trên những căn cứ thực tế như tình cảm, lợi ích và tình yêu sự vinh quang chung. Đồng thời phải là người thực hiện chỉ huy vì lợi ích chung. Người thủ lĩnh được chỉ định không phải để chăm lo cho cá nhân người đó mà để phục vụ những người mà anh ta chỉ huy, vì rằng những người này đã chọn anh ta, do những phẩm chất của anh ta, để bảo vệ cái lợi ích của họ. Người thủ lĩnh phải luôn rèn luyện, tu dưỡng bản thân. 

Platon (428 – 347 TCN) 
 Ông cho rằng, chính trị xuất hiện trước hết như một sự hiểu biết duy lý dành cho việc giáo dục chung con người. Sau đó nó trở thành nghệ thuật dẫn dắt xã hội con người. Người ta có thể dẫn dắt con người bằng sự bắt buộc và bạo lực, nhưng người ta cũng có thể dẫn dắt con người bằng sự ưng thuận của ý chí tự do của họ. - Nghệ thuật cai trị bằng sức mạnh sẽ mang đến một chế độ độc tài 19 - Nghệ thuật cai trị bằng thuyết phục con người gọi là chính trị “Chính trị là nghệ thuật cai trị những con người với sự bằng lòng của họ” 

- Theo ông chính trị phải là chuyên chế, tất cả phải phục tùng quyền uy, không một bộ phận nào để cho tự do thuần túy. Platon chia xã hội thành ba hạng người khác nhau: Ở địa vị cao nhất là các nhà triết học, những người này có vai trò quan trọng trong việc cai trị đất nước, họ nắm quyền bính trong tay và đảm nhận vai trò lãnh đạo. Ở địa vị thấp hơn là những người lính làm nhiệm vụ bảo vệ an ninh. Những người thuộc tầng lớp nông dân, thợ thủ công. Họ có nhiệm vụ làm ra của cải vật chất, đảm bảo cuộc sống cho nhà nước. 

Theo Platon nhà nước xuất hiện từ sự đa dạng hóa các nhu cầu con người và từ đó xuất hiện các dạng phân công lao động để thỏa mãn các nhu cầu ấy. Vì vậy, trong xã hội phải duy trì các hạng người khác nhau. Do đó không thể có sự hoàn toàn bình đẳng giữa mọi người. Sở hữu tư nhân là nguồn gốc sinh ra điều ác, nó phá hoại chỉnh thể và thống nhất của nhà nước. 

Vì vậy nó phải được loại trừ ra khỏi xã hội. Theo ông cho dù nhà nước nào cũng tồn tại hai nhà nước thù định lẫn nhau: một là nhà nước của những người giàu có, còn nhà nước kia là của những người nghèo khó. Vì vậy, cần phải có sự thống nhất về sở hữu. Tóm lại quan điểm chính trị của Platon có nhiều hạn chế, một mặt ông muốn xóa bỏ sở hữu tư nhân, thiết lập sở hữu cộng đồng. Mặt khác ông thấy cần phải duy trì sự khác nhau giữa các đẳng cấp và bất bình đẳng trong xã hội. 

Aristole (384 - 322 tr.CN) 
Ông được coi là nhà "bách khoa toàn thư" của trí tuệ HịLạp cổ đại. Với tác phẩm Chính trị và Hiến pháp Aten. Trong cuốn Hiến pháp Aten: Ông đã khảo cứu 158 các nhà nước thành bang Hi Lạp đương thời, trong đó tập hợp, phân loại, nghiên cứu các loại hiến pháp và chính phủ. Phân loại các cơ quan Nhà nước thành: lập pháp, hành pháp và phân xử. Trong cuốn Chính trị: Ông nghiên cứu các mặt cấu thành các thành bang: các gia đình và công dân, lãnh thổ và dân cư, chính phủ, hình thức chính quyền, chế độ chính trị....Chính trị là khoa học lãnh đạo con người, là khoa học làm chủ, là khoa học kiến trúc xã hội của mọi công dân. Những quan điểm cơ bản của ông về chính trị thể hiện như sau: 

Về Nhà nước và con người: Ông quan niệm con người là động vật chính trị: Từ chỗ luận giải về thế giới tự nhiên, hai cá thể muốn tồn tại và phát triển được chúng cần kết hợp với nhau để duy trì nòi giống. Về điểm này con người và các động vật 20 khác kể cảthực vật là giống nhau. Đối với con người, đó là hình thức kết hợp gia đình. Tuy nhiên, con người không chỉ dừng lại ở đó, với nhu cầu ngày một cao hơn, họ kết hợp với nhau thành thôn trang, và thôn trang lại liên hợp lại thành thành bang. Khi đó, xã hội phát triển đến một mức độ cao, ở đó cong người sống tự cấp, tự túc và tuân theo những chuẩn mực được đặt ra phù hợp với cuộc sống cộng đồng. Ông kết luận Thành bang là sản phẩm của tự nhiên, là cái đích phát triển của xã hội loài người: "Từ đây có thể hiểu thành bang sinh ra từ bước tiến triển của tự nhiên, và con người cũng tự nhiên là động vật hướng mình vào đời sống thành bang" (3) . Với kết luận nêu trên, Aristotle cho rằng, Nhà nước là hình thức giao tiếp cao nhất của con người. 

Nhà nước trong quan hệ với dân cư, được Aristotle tuyệt đối hoá khi ông đứng trên lập trường của giai cấp chủ nô, khinh miệt những người nô lệ. Theo ông, dân cư đều là một phần của Nhà nước, nhưng không phải mọi dân cư đề là thành viên của Nhà nước, ví dụ,nô lệ. Ông nhấn mạnh, sự tồn tại giữa chủ nô vànô lệ là khách quan. 

Về quyền lực chính trị: Ông cho rằng, quyền lực chính trị ra đời tự nhiên cùng với thành bang, và là sự chuyển tiếp 3 Dẫn theo Lê Hồng Lôi(Lê Quốc Khánh, Trần Thị Thuý Ngọc dịch). Đạo của Quản lý. NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 2004, tr27 quyền lực trong gia đình. Có thể phân chia quyền lực thành các quyền lập pháp, hành pháp và phân xử. 

Về hình thức Chính phủ: Ông phân tích các hình thức chính phủ: Quân chủ, quý tộc, dân chủ. Theo ông, không có một loại hình chính phủ nào là duy nhất có thể phù hợp với tất cả các thời đại và các nước. Ông xếp chính phủ theo 2 loại: 1- Chính phủ chân chính, 2- Chính phủ biến chất. Tuy vậy, ông ủng hộchế độ quân chủ là hơn cả.

Author: Triết học+

Mô tả ở đây

YOU MAY LIKE:


hghghghghghghghghgh
-->