Tạp chí Việt

Blog học tập

Mô tả
Mô tả

Hội thảo giới thiệu sách: Thuyết hiện sinh là một thuyết nhân bản của Jean-Paul Sartre

Giới thiệu sách Conférence
Thuyết hiện sinh là một thuyết nhân bản của Jean-Paul Sartre
L’existentialisme est un humanisme de Jean Paul Satre
21.04.2016 – 18h00
Thư viện Médiathèque
Vào cửa tự do Entrée libre
Ngôn ngữ : Tiếng Việt Langue de la conférence : vietnamien
Trung tâm Văn hóa Pháp tại Hà Nội

Diễn giả Intervenants :
– Nhà phê bình Đỗ Lai Thúy, critique littéraire
– G.S Chu Hảo – GĐ NXBTT, Directeur des Editions de la Connaissance


Jean – Paul Sartre (1905 – 1980) là triết gia hàng đầu của Phong trào hiện sinh, với những luận điểm nổi tiếng “Hiện hữu đi trước bản chất”, “Địa ngục là người khác”. Sáng lập và làm chủ bút tạp chí Les Temps Modernes (1945). Công trình triết học chính: Tồn tại và hư vô (1942), Thuyết hiện sinh là một thuyết nhân bản (1945), Phê phán lý tính biện chứng.

Thuyết hiện sinh không gì khác hơn là một nỗ lực rút ra tất cả các hệ quả từ một lập trường vững chắc. Nó không hề tìm cách dìm con người vào sự tuyệt vọng. Nhưng nếu ta gọi sự tuyệt vọng là toàn bộ thái độ vô tín ngưỡng như người Công giáo thì thuyết hiện sinh xuất phát từ sự tuyệt vọng nguyên thủy. Thuyết hiện sinh thực sự không phải là một thuyết vô thần theo nghĩa nó tận lực chứng minh rằng Thượng Đế không hiện hữu. Đúng hơn, nó tuyên bố rằng : cho dù Thượng Đế có hiện hữu thì cũng chẳng có gì thay đổi cả ; đấy là quan điểm của chúng tôi. Không phải chúng tôi tin Thượng Đế hiện hữu, mà chúng tôi cho rằng vấn đề không phải là sự hiện hữu của ngài. Con người cần tìm lại chính mình và tin chắc rằng không có gì có thể cứu con người ra khỏi bản thân mình, đó có phải là một chứng cứ có hiệu lực về sự hiện hữu của Thượng Đế ? Theo nghĩa này, thuyết hiện sinh là một thuyết lạc quan, một học thuyết hành động.

Jean-Paul Sartre (1905-1980) est philosophe, critique littéraire, romancier, nouvelliste et dramaturge. Il se fait connaître du grand public par ses récits (La Nausée, Le Mur) et ses pièces de théâtre (Les Mouches, Huis clos). Mais son activité littéraire est indissociable de sa pensée philosophique (L’Imaginaire, L’Être et le néant). Menant une intense activité politique, il refuse le prix Nobel de littérature en 1964.

L’existentialisme n’est pas autre chose qu’un effort pour tirer toutes les conséquences d’une position athée cohérente. Elle ne cherche pas du tout à plonger l’homme dans le désespoir. Mais si l’on appelle, comme les chrétiens, désespoir toute attitude d’incroyance, elle part du désespoir originel. L’existentialisme n’est pas tellement un athéisme au sens où il s’épuiserait à démontrer que Dieu n’existe pas. Il déclare plutôt : même si Dieu existait, ça ne changerait rien ; voilà notre point de vue. Non pas que nous croyions que Dieu existe, mais nous pensons que le problème n’est pas celui de son existence ; il faut que l’homme se retrouve lui-même et se persuade que rien ne peut le sauver de lui-même, fût-ce une preuve valable de l’existence de Dieu. En ce sens, l’existentialisme est un optimisme, une doctrine d’action.