Mối quan hệ giữa tín ngưỡng thờ thành hoàng làng với sự tồn tại của phong tục tập quán và các loại hình văn hóa truyền thống ở nông thôn đồng bằng Bắc Bộ Việt Nam

Nguyễn Quang Khải

Thành hoàng của các làng Việt cổ không chỉ là và không phải là vị thần bảo vệ thành và hào của làng, mà đó là người - theo truyền thuyết – có công với dân với nước trong các cuộc kháng chiến đánh đuổi giặc ngoại xâm, hoặc là người có công lập ra làng, có công truyền dạy một nghề nào đó cho dân làng, hoặc là một ông quan tốt (và một số vị tà thần - nhưng số này không nhiều).

Năm 1941, TS Nguyễn Văn Huyên công bố luận văn Về một bản đồ phân bố thành hoàng ở tỉnh Bắc Ninh trên tạp chí Viễn Đông Bác Cổ. Trong luận văn này, tác giả đã đưa ra số liệu rất chính xác về tình hình thờ thành hoàng ở tỉnh Bắc Ninh. Nhưng nội dung của luận văn được xây dựng trên cơ sở những bản kê khai của lý trưởng các làng, nên cách phân loại các loại thành hoàng chỉ đúng với quan niệm của người nông dân nông thôn đầu những năm 1940 của thế kỷ trước nhưng nó lại không chính xác trong thực tế, và vì vậy, những người nghiên cứu tín ngưỡng thờ thành hoàng dễ bị hiểu nhầm (trong trường hợp các vị thành hoàng là thần sông với các vị thành hoàng là nhân vật thời Lý). Nhưng dẫu sao đây cũng là một tư liệu rất quý giúp những thế hệ sau tìm hiểu tiếp về tình hình thờ thành hoàng ở các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ. Thừa hưởng những kết quả nghiên cứu của các bậc tiền bối, và đặc biệt từ những kết quả tìm hiểu trên thực địa, trong tham luận này, chúng tôi có ý định trình bày những kiến văn của mình về mối quan hệ giữa tín ngưỡng thờ thành hoàng làng với sự tồn tại của phong tục tập quán và các loại hình văn hóa truyền thống dân gian ở nông thôn đồng bằng Bắc Bộ Việt Nam.

Cơ sở thực tiễn để chúng tôi phát biểu suy nghĩ của mình về vấn đề này là sự tồn tại bền vững của làng cổ vùng đồng bằng châu thổ Bắc Bộ, của tín ngưỡng thờ thành hoàng làng và sự bền vững của phong tục tập quán và các loại hình văn hóa dân gian của các làng Việt cổ. Khi tiếp cận các đối tượng này, chúng tôi đặt chúng trong mối quan hệ qua lại với nhau và chú ý tìm ra khả năng chi phối và sự tác động qua lại giữa các yếu tố.

1. Chúng ta biết rằng tín ngưỡng thờ thành hoàng làng có nguồn gốc từ Trung Quốc. Nhưng vì quy mô và cơ cấu làng cổ Trung Quốc có nhiều điểm khác với làng cổ của Việt Nam, nên tín ngưỡng thờ thành hoàng của các làng Việt cổ cũng không giống tín ngưỡng thờ thành hoàng của làng cổ Trung Quốc. Thành hoàng của các làng Việt cổ không chỉ là và không phải là vị thần bảo vệ thành và hào của làng, mà đó là người - theo truyền thuyết – có công với dân với nước trong các cuộc kháng chiến đánh đuổi giặc ngoại xâm, hoặc là người có công lập ra làng, có công truyền dạy một nghề nào đó cho dân làng, hoặc là một ông quan tốt (và một số vị tà thần - nhưng số này không nhiều).

Tìm hiểu tình hình thờ thành hoàng làng ở các tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang, Hải Dương, Hưng Yên, Thái Bình, Nam Định, Hà Tây, Vĩnh Phúc… và một số làng ngoại thành Hà Nội, chúng tôi được biết việc thờ thành hoàng của nhiều làng thực ra là thờ một sức mạnh tự nhiên nào đó (như thần sông, thần núi, thần sấm, thần sét, thần mây, thần mưa). Trong số các vị thần này, nơi nào thờ loại thần gì là tùy thuộc vào đặc điểm cư trú của làng đó. Chẳng hạn, những làng ở hai bên bờ các con sông thường là thờ các vị thuỷ thần; những làng ở trên sườn núi thường thờ thần núi. Căn cứ vào cuốn Trương tôn thần sự tích thì vùng Bắc Ninh, Bắc Giang, ngoại thành Hà Nội có đến 308 làng thờ thánh Tam Giang1. Còn các làng miền núi của các huyện Lục Ngạn, Lục Nam, Yên Thế, Lạng Giang, Hiệp Hòa,… thì thờ thần núi (mà trong thần tích thường gọi là Cao Sơn - Quý Minh Đại vương). Những vị thần này được lịch sử hóa bằng cách điển hình hóa thành những vị anh hùng, mà sự nghiệp của những anh hùng này được gắn liền với thời đại các vua Hùng.

Một số làng thờ những nhân vật lịch sử làm thành hoàng làng mình là những vị anh hùng dân tộc, có công đánh đuổi giặc ngoại xâm, giành lại nền độc lập cho dân tộc, như các vị: Bà Trưng, Bà Triệu, Lê Hoàn, Dương Đình Nghệ, Lê Văn Thịnh, Tô Hiến Thành, Lý Thường Kiệt, Trần Nhật Duật,…

Một số làng thờ vị có công truyền dạy cho dân làng một nghề thủ công nào đó, như vị tổ nghề gốm Bát Tràng, làng Phù Lãng là Hứa Vĩnh Kiều, vị tổ nghề đúc đồng ở Đại Bái là Nguyễn Công Truyền, ở Quảng Bố là Nguyễn Công Nghệ,…

Một số làng thờ những quan lại phương Bắc đã từng cai trị nước ta làm thành hoàng như: Triệu Đà, Sĩ Nhiếp, Cao Biền, Đào Hoàng,...

Tìm hiểu tín ngưỡng thờ thành hoàng của các làng cổ vùng đồng bằng Bắc Bộ chúng tôi cũng được biết hầu hết các làng đều thờ hai loại thành hoàng, trong đó một vị là biểu tượng của sức mạnh tự nhiên, một vị là nhân vật lịch sử hoặc người có công với làng. Nhưng điều lý thú của tín ngưỡng thờ thành hoàng của các làng Việt cổ là ở chỗ, dù thời cuộc có biến đổi như thế nào, dù làng có chuyển nơi cư trú bao nhiêu lần, dù chính sách tôn giáo của Nhà nước có chặt chẽ hay cởi mở, dù dân làng giàu sang hay nghèo túng,… thì người được làng thờ làm thành hoàng vẫn không thay đổi, mà tồn tại mãi mãi, suốt từ đời này đến đời khác.

2. Để việc thờ thành hoàng được lưu truyền từ đời này sang đời khác, không bao giờ dứt, việc làm không thể thiếu được là phải soạn thần tích (còn gọi là Thần phả hay Ngọc phả). Chúng tôi may mắn được đọc gần 200 bản Thần tích (hoặc Thần phả, hay Ngọc phả, Phả lục, Sự tích) của các làng thuộc tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang thì thấy chúng giống nhau và đều mang đậm phong cách của truyền thuyết. Sự giống nhau của các bản Thần tích thể hiện trên các điểm:

- Thành hoàng được sinh ra trong một gia đình có bố mẹ nghèo, ăn ở phúc đức, hay làm điều thiện nhưng có con muộn.

- Bà mẹ đi cầu tự, hoặc nằm mộng gặp thần nhân, hoặc ra đồng ướm chân vào vết chân thần, rồi về thụ thai, mang thai nhiều tháng hơn người bình thường.

- Đứa trẻ được sinh ra trong ánh sáng lạ hoặc hương thơm đặc biệt, có tướng mạo đặc biệt và mồ côi sớm; có sức khỏe và có tài văn võ khác thường.

- Được nhà vua biết đến và được cử đi (hoặc xung phong) đi đánh giặc và giành được chiến thắng; được nhà vua phong thưởng.

- Vị tướng đó sau khi thắng trận, về thăm quê hương, gặp gỡ các vị phụ lão, tặng thưởng vàng bạc cho làng rồi hóa.

- Dân làng làm biểu tâu về triều đình. Triều đình cho lập đền thờ, cấp ruộng, để dân làng bốn mùa cúng tế.

- Thành hoàng hiển thánh, giúp vị tướng trong những lần chống giặc sau đó và cuộc chiến đấu nhờ đó giành thắng lợi.

- Các triều đại đều bao phong mỹ tự, ghi vào tự điển và phong là thượng đẳng hay trung đẳng thần, tùy theo công trạng của thành hoàng.

Các bản Thần tích cũng không quên ghi việc tổ chức tế thành hoàng vào ngày nào, kỵ húy chữ gì, kiêng cúng lễ vật gì, kiêng màu sắc gì…

Một số bản Thần tích có những chi tiết khác đôi chút, nhưng nhìn chung, về cơ bản, các Thần tích đều có chung cái cốt trên đây.

Về mặt văn bản, hầu như tất cả các bản Thần tích mà chúng tôi được đọc đều thấy ghi là soạn thảo vào năm Hồng Phúc nguyên niên và được sao lục nhiều lần vào cuối thời Lê và thời Nguyễn. Người soạn, sao lục Thần tích đều thấy ghi là Nguyễn Bính hoặc Nguyễn Hiền, hoặc Lê Tung.

3. Như trong Thần tích đã ghi và từ kết quả thu được của những cuộc đi thực tế về các làng cổ vùng đồng bằng sông Hồng và sông Thái Bình, chúng tôi được biết rằng, ở thời kỳ đầu, thành hoàng được thờ ở đền (hay miếu). Sau này vị đó được thờ cả ở đền và hậu cung đình làng. Vì là nơi thành hoàng ngự ở đó nên đền hay miếu và hậu cung đình làng, không ai cũng có thể tự do đến được; mặt khác, việc thờ tự thành hoàng là việc tối hệ trọng của làng, cần phải được thực hiện hàng ngày. Vì vậy, làng phải có một người chuyên trách làm việc sự thần. Người đó là ông Đám (còn gọi là cai Đám, quan Đám). Ông Đám được hưởng một số quyền lợi do làng quy định (như được cấy một số diện tích ruộng để phục vụ việc thờ cúng thành hoàng,…) nhưng ông ta cũng phải thực hiện một số điều kiêng kỵ hết sức chặt chẽ mà nếu vi phạm sẽ bị làng phạt rất nghiêm khắc (như trong suốt thời gian làm ông Đám, người đó không được gần gũi vợ, không được sờ mó vào vật uế tạp, ra ngoài trời không được đi chân đất, để đầu trần, không được đến các đám ma và ăn cỗ đám ma,…). Tìm hiểu tục kiêng kỵ của nông dân đồng bằng Bắc Bộ, chúng tôi thấy không có loại kiêng kỵ nào của làng Việt cổ lại chặt chẽ và nghiêm ngặt như đối với thành hoàng2.

4. Như trên đã đề cập, chốn đình chung không phải ai cũng tự do đến được mà nơi đó chỉ dành cho một số đối tượng nhất định. Và chính những đối tượng đó cũng phải ngồi đúng vị trí của mình. Vị trí chỗ ngồi này được quy định bởi chức sắc, tuổi tác. Chẳng hạn, cụ nhất và những người có phẩm hàm, bằng sắc thì ngồi ở gian giữa, ngay trước hương án đình; các cụ ở bàn hai và chức dịch thì ngồi ở hai gian bên, các người ở bàn ba thì ngồi ở hai gian bên tiếp theo,…). Từ đây tục khao lão xuất hiện và liên tục được duy trì (còn gọi là lên lão, trình lão). Hầu hết các làng Việt cổ mà chúng tôi đến tìm hiểu, người ta đều tổ chức khao lão 80, 90 tuổi. Theo truyền thống trọng lão, người càng cao tuổi, càng có vị trí trang trọng trong chốn đình chung, và phần cỗ của người đó cũng là nhiều nhất (Có lẽ vì vậy mà trong dân gian có câu “Đa thọ tắc đa nhục” - Nhiều tuổi ắt được nhiều thịt).

5. Tìm hiểu tín ngưỡng thờ thành hoàng của các làng Việt cổ vùng đồng bằng châu thổ Bắc Bộ, chúng tôi thấy bên cạnh hiện tượng mỗi làng thờ một thành hoàng, còn có hiện tượng một số làng cùng thờ một thành hoàng (Chẳng hạn: các làng Bảo Tháp, Cứu Sơn, Yên Việt, Hương Vinh, Hiệp Sơn - xã Đông Cứu huyện Gia Bình, làng Bút Tháp xã Đình Tổ huyện Thuận Thành cùng thờ Lê Văn Thịnh; các làng: Đại Than, Tiểu Than, Bình Than, Phù Than, Văn Than, Đông Trung, Mỹ Lộc của tổng Vạn Ty cũ cũng thờ Cao Lỗ Vương; các làng Lũng Khê, Thanh Tương, Tam Á, Đề Cầu huyện Thuận Thành; làng Đại Trung huyện Tiên Du cùng thờ Sỹ Nhiếp…). Do có chung một thành hoàng, nên những làng đó kết chạ với nhau3. Từ tục kết chạ, các làng lại xuất hiện tục lệ đón rước, tiếp đãi chạ anh - chạ em và những phong tục giao tiếp, ứng xử, quan hệ giữa các thành viên của hai chạ.

Author: Triết học+

Mô tả ở đây

YOU MAY LIKE:


hghghghghghghghghgh
-->