Tạp chí Việt

Blog học tập

Mô tả
Mô tả

Về thái độ ứng xử của người Việt với tự nhiên trong tín ngưỡng thờ Mẫu

Nguyễn Hữu Thụ

Với niềm tin vào sức mạnh cai trị và ban phát các hiện tượng tự nhiên của các Thánh Mẫu, các Mẹ, người Việt đã xây dựng cho mình một triết lý nhân sinh phù hợp với hoàn cảnh và môi trường sống của mình. Đó là triết lý sống hoà hợp nhưng chứa đựng những khát vọng vươn lên trong việc năm vững và chế ngự các hiện tượng tự nhiên để phục vụ cho hoạt động sống của con người.

 1. Đặt vấn đề

       Cho đến nay, với chiều dài hàng ngàn năm lịch sử hình thành và phát triển của mình, xã hội người Việt nói chung, đời sống tâm linh của người Việt nói riêng đã có những thay đổi rất mạnh mẽ, luôn theo sát với sự thay đổi của xã hội. Bên cạnh những tôn giáo lớn được du nhập vào Việt Nam với những giáo lý, tổ chức chặt chẽ mang tính hệ thống cao như Ki tô giáo, Phật giáo, Nho giáo… hay những tôn giáo được hình thành ở Việt Nam như Cao Đài, Hoà Hảo, thì còn tồn tại và phổ biến rất nhiều những hình thức tín ngưỡng dân gian, mà sức sống và sự lan toả của nó trong dân chúng đã được rất nhiều nhà nghiên cứu tiến hành tìm hiểu nhưng vẫn chưa đưa ra được những câu trả lời cuối cùng.

       Có thể thấy rằng tín ngưỡng dân gian của người Việt nói chung và tín ngưỡng thờ Mẫu nói riêng là sản phẩm văn hoá của người Việt trong mối quan hệ với tự nhiên và xã hội mà nền tảng là chế độ nông nghiệp lúa nước với gia đình tiểu nông phụ quyền làm trung tâm trong một môi trường làng xã khép kín. Trên cơ sở những đặc trưng về văn hoá và tư duy của mình, người Việt, trong quá trình phát triển đã thu nhận không ít những giá trị văn hoá, tinh thần ngoại sinh để bồi đắp nên một sản phẩm tinh thần của riêng mình, khẳng định được bản sắc văn hoá truyền thống của dân tộc Việt Nam. Chúng ta có thể tìm thấy nhiều lớp văn hoá khác nhau được tích hợp hoặc chồng lấp lên nhau trong một loại hình tín ngưỡng, chẳng hạn như trong tín ngưỡng thờ Mẫu, có rất nhiều dấu ấn của tín ngưỡng phồn thực, tín ngưỡng thờ thần tự nhiên, Phật giáo, Nho giáo, Đạo giáo…. Chính sự tiếp nhận và điều chỉnh này đã giúp tín ngưỡng thờ Mẫu nói riêng và tín ngưỡng dân gian của người Việt nói chung có khả năng tự biến đổi cao, luôn vận động, thích ứng và bám sát cuộc sống, trở thành một bộ phận không thể thiếu được trong đời sống tâm linh của người Việt.

       Tín ngưỡng thờ Mẫu, mặc dù chỉ là một loại hình tín ngưỡng dân gian, nhưng nó đã được người Việt gửi gắm trong đó những suy nghĩ, những quan niệm, những tình cảm mang tính trực quan cảm tính về vũ trụ, về con người, về mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, và về mối quan hệ giữa con người với xã hội.

       Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi không có ý dịnh đi sâu vào tìm hiểu và phân tích bản chất cũng như nội dung của tín ngưỡng thờ Mẫu, hoặc giả chúng tôi đưa ra một cách hiểu của mình về khái niệm của tín ngưỡng thờ Mẫu thì cũng không có ý định sẽ đi sâu làm sáng tỏ sự khác biệt giữa quan niệm của chúng tôi với một số quan niệm của các học giả khác khi coi tín ngưỡng thờ Mẫu là một Đạo, một tôn giáo đang hình thành hay nó chỉ là một tục lệ dân gian chứa đựng nhiều yếu tố mê tín dị đoan mà thôi. Việc đưa ra khái niệm chỉ với mong muốn là tìm một công cụ giúp chúng tôi đạt được mục đích của mình là làm sáng tỏ thái độ ứng xử của con người với giới rtự nhiên trong quan niệm của tín ngưỡng thờ Mẫu.

2. Về khái niệm tín ngưỡng thờ Mẫu

     Bản thân khái niệm “tín ngưỡng thờ Mẫu” hiện nay vẫn còn rất nhiều quan điểm không đồng nhất, tuy nhiên, đa số các học giả đều thống nhất rằng thuật ngữ “Mẫu” là một danh từ gốc Hán Việt được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau. Mẫu có thể được hiểu theo

nghĩa thông thường là mẹ, mụ, mạ hay mế dùng để chỉ người phụ nữ đã sinh thành ra một người nào đó, là tiếng xưng hô của người con đối với người mẹ đã sinh ra mình.

     “Mẫu” cũng được hiểu theo nghĩa rộng hơn đó là sự tôn vinh, tôn xưng một nhân vật nữ nào đó (có thật hoặc không có thật) như: Mẫu Âu Cơ, Mẫu Liễu Hạnh, Mẫu nghi thiên hạ… Và thậm chí, Mẫu cũng còn được dùng để chỉ sự sinh sôi nảy nở, sinh hoá không

ngừng của vạn vật (đặc biệt là những yếu tố mà sự sinh sôi nảy nở của nó ảnh hưởng mật thiết đến đời sống của con người) ví dụ như những danh xưng: Mẹ cây, Mẹ đất, Mẹ nước, Mẹ núi rừng, Mẹ lúa, Mẹ chim, Mẹ cá…

Trong tất cả những các hiểu đó, Mẫu không mang trong mình tính sáng thế mà chỉ mang ý nghĩa đùm bọc, che chở, bao dung, độ lượng, nuôi dưỡng, và sinh sôi nảy nở cho con người và vạn vật mà thôi. Có lẽ chính từ những ý nghĩa đó của Mẫu mà số người tìm

đến với tín ngưỡng thờ Mẫu không hề suy giảm trong lịch sử cũng như ở hiện tại.

     Với cách hiểu như vậy về Mẫu thì tín ngưỡng thờ Mẫu được hiểu là một loại hình tín ngưỡng dân gian được tích hợp bởi các lớp tín ngưỡng thờ Nữ thần, thờ Mẫu thần và thờ Tam phủ - Tứ phủ với niềm tin thiêng liêng vào quyền năng của Mẫu - đấng sáng tạo, bảo trợ cho sự tồn tại và sinh thành của vũ trụ, đất nước và con người.

       Trong đó, thờ nữ thần là thờ những vị thần là nữ. Nữ thần được thờ có thể là nhiên thần như: thần sấm, thần Mây, thần Mưa, thần Chớp (Tứ pháp), Mẹ Lúa, mẹ Chim, mẹ Cá….; có thể là nhân thần như: Mẫu Liễu Hạnh, Mẫu Âu Cơ, Ỷ Lan, Bà Trưng, Bà Triệu….

       Thờ Mẫu thần là sự phát triển từ thờ Nữ thần, ở đó chỉ những nữ thần là chủ thể của sinh nở mới được tôn là Mẫu. Danh xưng Mẫu gắn với chức năng sinh đẻ, chăm sóc, nuôi dạy con cái. Còn trong thờ Nữ thần có các nữ thần không bao hàm yếu tố này như những “Bà cô” (là những người phụ nữ không có chồng, con hoặc phụ nữ bị chết trẻ chưa có chồng).

       Thờ Tam phủ - Tứ phủ chính là mức phát triển cao về nhiều mặt từ thờ Mẫu thần. Sự phát triển này không chỉ dừng lại ở tính hệ thống (Trong thờ Mẫu Tam phủ - Tứ phủ đã có sự nhất quán tương đối về điện thần với các phủ (Thiên Phủ, Nhạc Phủ, Thoải (Thuỷ) Phủ, Địa Phủ) và các vị thần linh (Ngọc Hoàng, Mẫu, Quan, Chầu, Ông Hoàng, Cô, Cậu). Còn ở thờ Mẫu thần thì tính tản mạn, đôi khi rời rạc còn rất cao), ở quy mô thờ phụng (trong thờ Tam phủ - Tứ phủ, hệ thống thần linh đã có sự “chưng cất” (hay chắt lọc) từ tín ngưỡng đa nữ thần về một số vị nữ thần cơ bản gồm: Mẫu Thượng Thiên, Mẫu Thượng Ngàn, Mẫu

Thoải (Thuỷ), Mẫu Địa, ở nghi lễ và tổ chức (ở tín ngưỡng thờ Tam phủ - Tứ phủ bước đầu đã hình thành một hệ thống tổ chức và nghi lễ thờ cúng tương đối thống nhất, có một đội ngũ chức sắc và tín đồ chuyên nghiệp; có những lễ nghi và lễ hội đã được chuẩn hoá. Chẳng hạn như lễ Hầu đồng, lễ tháng Ba - giỗ Mẹ (giỗ thánh Mẫu Liễu Hạnh), lễ tháng Tám - giỗ Cha (giỗ vua cha Bát Hải, Đức Thánh Trần), tiệc cô Bơ (12-6), tiệc quan Tam phủ (24-6), tiệc ông Hoàng Bảy (17-7),...), mà còn ở ý nghĩa của nó (tín ngưỡng Mẫu Tam phủ - Tứ phủ bước đầu đã thể hiện được những quan niệm về thế giới, về nhân sinh, thể hiện được ý thức về cội nguồn dân tộc, đất nước…). Tất nhiên, với sự phát triển như vậy thì vẫn không thể coi thờ Tam phủ - Tứ phủ là một loại hình tôn giáo được (vấn đề này xin được làm rõ ở một bài viết khác). Chúng ta chỉ có thể coi tín ngưỡng thờ Tam phủ -Tứ phủ là một hình thức phát triển hơn của tín ngưỡng thờ Mẫu thần mà thôi.

3. Về ứng xử của người Việt với tự nhiên trong tín ngưỡng thờ Mẫu.

       Có thể khẳng định rằng, mặc dù chỉ là một loại hình tín ngưỡng dân gian nhưng nội dung của tín ngưỡng thờ Mẫu đã chứa đựng rất nhiều các quan niệm, tư tưởng về tự nhiên, về con người, về mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, mối quan hệ giữa con người với con người. Trong quá trình hình thành và phát triển của mình, tín ngưỡng thờ mẫu đã mang theo nó tất cả những suy nghĩ, những ứng xử của người Việt với giới tự nhiên.

       Có thể thấy rằng, trong mối quan hệ với tự nhiên thì tự nhiên là cái có trước, con người được sinh ra từ tự nhiên, tồn tại trong lòng tự nhiên và cần có tự nhiên để sinh tồn và phát triển. Nếu như những nền văn minh phương Tây đều xem thiên nhiên, tự nhiên như là thù địch và do vậy cần phải chinh phục, thống trị và biến đổi tự nhiên thì các nền văn minh phương Đông đều có xu hướng tôn trọng thiên nhiên, sống hoà đồng với tự nhiên1.

       Tất nhiên, nói như vậy không có nghĩa là mọi học thuyết phương Tây đều chủ trương đề cao thái độ chinh phục của con người đối với giới tự nhiên và cũng như vậy, không phải mọi triết thuyết phương Đông đều chủ trương con người phải hoà hợp với tự nhiên. Bởi vì ngay trong thế giới quan chinh phục tự nhiên cũng vẫn có những quan điểm còn tôn trọng tự nhiên hơn cả một vài quan điểm đề cao sự hoà hợp. Đây là một vấn đề khá phức tạp nhưng các học giả đều thừa nhận rằng sự khác nhau giữa thế giới quan phương Đông và phương Tây trong vấn đề về mối quan hệ giữa con người và tự nhiên là có thật và cũng rất đáng kể nhưng không phải là tuyệt đối.

   Thái độ hoà hợp với tự nhiên của người phương Đông nói chung và người Việt nói riêng được hình thành từ rất sớm và đã định hình trên cơ sở những quan niệm về con người, về tự nhiên trong lịch sử. Theo nhiều tác giả, con người trong quan niệm của tất cả các tôn giáo phương Đông và trong hầu hết các học thuyết triết học phương Đông truyền thống đều không đối lập với tự nhiên, nó luôn luôn được coi là một thành tố, một bộ phận của giới tự nhiên2.

    Ở Phương Tây, do sự chi phối và ảnh hưởng sâu sắc của môi trường địa văn hoá, cũng như những tư tưởng thần học Kitô giáo về sự sáng tạo của Thượng đế, đã làm nảy sinh thế ứng xử “con người phải chinh phục và cải tạo tự nhiên trong văn hoá phương Tây”.

     Tất nhiên, chúng ta không thể nói rằng triết học Mác nằm ngoài truyền thống chinh phục thế giới của văn hoá Châu Âu. Bởi vì hơn ai hết, chính Mác đã khẳng định “các nhà triết học đã chỉ giải thích thế giới bằng nhiều cách khác nhau, vấn đề là cải tạo thế giới”3. Nhưng khác nhau là ở chỗ Mác và Ănghen đã đặt vấn đề phải cải tạo thế giới tự nhiên một cách biện chứng với một hệ thống các quan điểm hợp lý, cân đối, không thiên lệch. Trong tác phẩm “Biện chứng của tự nhiên”, Ănghen cho rằng quan niệm đối lập giữa tinh thần với vật chất, giữa con người với tự nhiên, giữa linh hồn với thể xác… là quan niệm thịnh hành ở Châu Âu từ khi nền văn hoá cổ điển bị suy đồi. Đó là quan niệm “phi lý và trái tự nhiên” cần phải bị xoá bỏ. Sự tiến bộ của nền khoa học tự nhiên thế kỷ XIX, một mặt, cho phép con người hiểu được ngày càng chính xác hơn các quy luật của tự nhiên nhưng mặt khác cũng giúp con người ngày càng cảm thấy và nhận ra sự phụ thuộc của mình vào giới tự nhiên - con người với giới tự nhiên chỉ là một”4.

      Như vậy, đối với các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác, con người chẳng qua cũng chỉ là một bộ phận của giới tự nhiên, là sản phẩm cao nhất của giới tự nhiên, sống dựa vào giới tự nhiên và nằm trong lòng giới tự nhiên mà thôi. Nhưng khác với con vật (cũng là một bộ phận của giới tự nhiên, cũng dựa vào giới tự nhiên để sinh tồn), con người không chỉ cần đến tự nhiên như nguồn tư liệu sống, mà trước hết như nguồn tư liệu lao động. Tuy nhiên, để khỏi phải đối mặt với “sự trả thù của giới tự nhiên” như Ănghen đã cảnh báo, trong quá trình tác động vào giới tự nhiên, con người cần phải nhận thức được các quy luật của giới tự nhiên cũng như vận dụng chúng vào quá trình sản xuất vật chất của mình, thay vì phá vỡ những quy luật khách quan đó để khai thác tự nhiên một cách bừa bãi không theo quy luật.

     Trong lịch sử hình thành, tồn tại và phát triển của mình, người Việt - với đặc thù nền văn minh lúa nước đã luôn gắn chặt với giới tự nhiên mà cụ thể là với cây, cỏ, thời tiết, đất đai, nước… Chính thiên nhiên là nơi che chở cho con người, là nơi cung cấp nguồn của cải nuôi dưỡng sự sống của con người và cũng chính thiên nhiên là những thế lực to lớn có thể cướp đi sự sống của con người. Vì vậy, người Việt bên cạnh sự yêu quý, tôn trọng tự nhiên

cũng bao hàm trong đó sự sợ hãi, lo lắng trước tự nhiên hay chính xác hơn là trước các hiện tượng của tự nhiên.

     Điều này được thể hịên rõ nét qua tín ngưỡng sùng bái tự nhiên của người Việt. Đối với người Việt, mọi sự vật, hiện tượng sinh hoá trong vũ trụ bao la và huyền bí này đều có thể được thờ cúng “một hòn đá lớn, một gốc cây cổ thụ, một rừng sâu, một vực sông, ngọn núi cao, một vũng nước giữa đồng, một gốc cây âm u đều là cơ sở của thần linh, thần ở khắp cả, thấm nhuần khắp cả, tất cả đều là thần”5.

     Trong sự tín ngưỡng ấy, như Nguyễn Minh San đã nhận xét, “người Việt có xu hướng nữ tính hoá các hiện tượng tự nhiên, biến các thần tự nhiên thành các nữ thần và tôn phong nhiều vị nữ thần là Me/Mẫu”6. Trên cơ sở những vị thần tự nhiên của mình, người Việt đã quy tụ, khái quát và thống nhất về Tứ vị Thánh Mẫu. Họ cho rằng toàn bộ các sự vật, hiện tượng trong tự nhiên đều chịu sự chi phối của các Mẫu. Điều đó đã nói lên tình cảm cũng như mối quan hệ gần gũi, thân thiết của người Việt với giới tự nhiên.

       Trong tâm thức của người Việt, tất cả các hiện tượng tự nhiên như: nắng hạn hay lũ lụt, đất đai khô cằn hay màu mỡ, cây cối, động vật phát triển hay lụi tàn đều nằm trong các quyền năng của Mẫu. Vì vậy, nếu được Mẹ, Mẫu che chở, đùm bọc như một người mẹ tự nhiên thì cuộc sống của con người sẽ được đảm bảo hơn.

       Đối với mỗi con người thì “mẹ” là một từ luôn gợi cho ta cảm giác về sự gần gũi, thân thiện và được che chở. Mẹ chính là người đã “mang nặng đẻ đau” ra ta, nuôi nấng ta trưởng thành, bao bọc che chở cho ta vào đời. Vì vậy, dường như người mẹ mới thực sự là người quan trọng đối với người Việt và được người Việt dành cho những tình cảm đặc biệt. Người Việt thường nói: “Công cha như núi Thái Sơn, nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra” hay “cha sinh không tày mẹ dưỡng” để nói lên tình yêu, tình thân vô bờ bến đối với người mẹ.

     Khi người Việt đồng nhất giới tự nhiên với Mẹ, Mẫu thì cũng có nghĩa người Việt mong muốn rằng:

       Thứ nhất, giới tự nhiên đã sinh ra con người, hay nói cách khác, con người đã được sinh ra từ tự nhiên, được tự nhiên nuôi dưỡng và che chở bằng nguồn của cải vô tận của mình: cây cối trên mặt đất, động vật trong rừng, hải sản dưới biển, chim thú trên trời…và vì vậy, giới tự nhiên có thể được ví như người mẹ đã sinh ra, nuôi dưỡng và che chở cho con người. Do đó, trong mối quan hệ với tự nhiên, con người phải biết tôn trọng, quý trọng tự nhiên như quý trọng mẹ của mình vậy. Người Việt đến với tín ngưỡng thờ Mẫu (đến với các Thánh Mẫu cũng như các quân gia thị thần của các ngài) luôn với mong muốn được các Mẹ (Mẫu) che chở, bao bọc và phù hộ cho họ gặp được nhiều điều may mắn, giúp họ hiện thực hóa được những mong ước của mình trong cuộc sống - giống như người mẹ luôn quan tâm, lo lắng và theo sát, giúp đỡ những đứa con của mình vậy.

     Một đặc trưng nổi bật trong tín ngưỡng của người Việt là bên cạnh sự phù hộ, che chở của các vị thần linh là sự trừng phạt. Trong quan niệm của tín ngưỡng Mẫu cũng vậy, nếu con người xúc phạm đến Mẫu thì sẽ phải chịu sự trừng phạt của Mẫu. Đó là những tai hoạ bất ngờ có thể ảnh hưởng đến cuộc sống, thậm chí là sinh mạng không chỉ của bản thân mà của gia đình, cộng đồng mình vậy. Phải chăng với quan niệm về sự trừng phạt của các Mẫu như vậy, người Việt muốn nói về “sự trả thù” của giới tự nhiên khi con người khai thác tự nhiên một cách thái quá, không tôn trọng các quy luật của tự nhiên, phá vỡ môi trường sinh thái như Ănghen đã từng nói đến.

       Tất nhiên, sự trừng phạt này không làm lu mờ hay làm giảm lòng tin yêu, thành kính của các tín đồ đối với các vị thánh Mẫu mà ngược lại, nó còn làm tăng hơn nữa quyền uy (giống như sự nghiêm khắc) của các Mẫu đối với con người, và trong thực tiễn, dường như các Mẫu càng “nghiêm khắc” thì càng có nhiều người đến với các ngài hơn. Điều này được người Việt giải thích bằng chữ “thiêng”. Nếu người Việt nhận thấy các thánh Mẫu rất thiêng

trong việc trừng phạt con người vì đã có những hành vi hay lời nói xúc phạm các ngài thì cũng có nghĩa rằng các ngài sẽ có đủ quyền năng để đem đến cho con người những điều họ mong muốn đạt được trong cuộc sống.

     Thứ hai, khi coi tự nhiên là mẹ, người Việt mong muốn cuộc sống của mình, của gia đình, cộng đồng, đất nước sẽ tốt đẹp, yên ổn hơn. Vì trong thâm tâm của họ, người mẹ sẽ không bao giờ bỏ rơi con cái của mình dù hoàn cảnh khó khăn như thế nào, như họ vẫn thường nói “hổ dữ không ăn thịt con”. Tất nhiên, trên hết, người Việt mong muốn nguồn của cải nuôi sống con người từ giới tự nhiên không ngừng sinh sôi nảy nở (với ý nghĩ rằng mẹ là chủ thể của sự sinh sôi và phát triển). Không chỉ như vậy, cùng với sự phát triển của lịch sử loài người thì đối tượng được người Việt mong muốn luôn sinh sôi nảy nở được mở rộng hơn. Khi đến với Mẫu, họ luôn ấp ủ và hy vọng rằng những điều tốt đẹp trong cuộc sống sẽ luôn đến với họ. Còn những tai hoạ, rủi ro thì sẽ bị hạn chế và bị mất đi bởi quyền năng vô hạn của Thánh Mẫu và những hoá thân của Người.

       Thứ ba, thông qua quan niệm coi tự nhiên hay các hiện tượng, yếu tố cấu thành tự nhiên là Mẹ, Mẫu đã nói lên thế ứng xử thân thiện, tôn trọng của người Việt đối với giới tự nhiên. Tuy nhiên, do đặc thù của nền sản xuất nông nghiệp lúa nước mới ở trình độ sơ khai nên bên cạnh tâm lý tôn kính, lo sợ đối với tự nhiên hay các vị thần linh trong tự nhiên, người Việt cũng thể hiện khát vọng khám phá và chế ngự các hiện tượng tự nhiên thông qua hệ thống tín ngưỡng tôn giáo của mình. Trong tín ngưỡng dân gian của người Việt, không phải các vị thần đã sáng tạo ra con người mà ngược lại, con người sáng tạo (dựng lên) các vị thần để buộc các vị thần phục vụ cho cuộc sống hiện tại của mình. Người Việt đã sáng tạo ra hệ thống các thần linh cai quản các hiện tượng, các yếu tố cấu thành tự nhiên đồng thời trong các nghi thức tôn giáo của mình, người Việt đã mời hay thậm chí là bắt buộc thần linh giáng xuống sống gần con người, cùng với con người san sẻ lo âu, mong mỏi trong cuộc sống. Trong một số trường hợp, nếu thần linh không thực hiện được mong muốn của con người thì sẽ bị cộng đồng hoặc là phế truất hoặc là bị lãng quên. Tác giả Alfred Meynard đã rất có lý khi nhận xét người phương Đông đã đem cái vô hình xuống cuộc đời hàng ngày của họ. Họ sống với thế giới huyền bí, nhờ những cái gì họ tưởng đã thấy được, trái lại người phương Tây sống bên lề cái vô hình, không thân mật với vô hình, phủ nhận nó nữa vì không biết đến nó.7

     Điều này được biểu hiện rõ hơn khi người Việt đã gán cho các vị thần cai quản toàn bộ không gian sống của mình là các Mẹ, Mẫu và các hoá thân của Ngài. Mặc dù Mẹ là những gì được coi là thân thương nhất, gần gũi nhất đối với con người nhưng với Mẹ trời, Mẹ đất, Mẹ nước… thì vẫn còn rất xa xôi, rất trừu tượng. Chính vì vậy, vào thế kỷ XVI, người Việt đã sáng tạo hình tượng Mẫu mới gần gũi hơn với con người, thân thiện hơn với con người - đó là Thánh Mẫu Liễu Hạnh.

   Thánh Mẫu Liễu Hạnh theo truyền thuyết là “người trần mắt thịt” có nguồn gốc từ tiên nữ, sau một thời gian sống như những người dân bình thường khác (sinh ra, lớn lên, lập gia đình, sinh con đẻ cái…cũng có những tình cảm yêu, ghét, hạnh phúc, đau khổ…) khi mất đi được nhân dân tôn là Địa Tiên Thánh Mẫu, được đưa vào thờ trong Tam Toà Thánh Mẫu ngang hàng với các vị Thánh Mẫu mang tính chất tự nhiên.

       Có thể nói, Mẫu Liễu Hạnh chính là hiện thân của khát vọng của người dân Việt thế kỷ XVI trong quan hệ với tự nhiên và với xã hội. Do Mẫu Liễu có nguồn gốc là tiên trước khi là người trần nên trong điện thờ Mẫu đôi khi người ta đồng nhất Mẫu với Mẫu Thượng Thiên, và thậm chí cái khát vọng chinh phục tự nhiên của người Việt được đẩy cao hơn nữa khi họ coi Thánh Mẫu Liễu Hạnh là thần chủ của điện thờ Mẫu tức là đại diện của con người đã chế ngự toàn bộ Tam Toà Thánh Mẫu hay nói rộng hơn là toàn bộ giới tự nhiên.

     Bên cạnh đó, không chỉ ở hàng Thánh Mẫu mà cả ở những hoá thân của các Mẫu cũng có sự hiện diện của con người ở trong đó. Chúng ta biết rằng, để thực hiện được các quyền năng của mình, các Mẫu thường thông qua các hoá thân của mình như: hàng chầu,

hàng quan, hàng cô, hàng cậu… để giúp việc cai quản các mặt khác nhau của đời sống trần tục và vì vậy, khi người Việt gán lai lịch các vị thần linh là hoá thân của Mẫu bằng những nhân vật lịch sử có thật thì cũng có nghĩa là người Việt muốn khẳng định vai trò bình đẳng của con người với các vị thần linh trong việc cai quản, ban phát các hiện tượng tự nhiên (chẳng hạn như: Quan đệ ngũ còn được goi là Quan Tuần Tranh được gắn với Cao Lỗ hay Trần Quốc Tảng). Trong mong muốn đó, người Việt muốn dựa vào năng lực của chính bản thân mình (những nhân vật lịch sử có thật đã hoá thân thành thần thánh) phục vụ cho nhu cầu và mục dích của mình chứ không muốn phụ thuộc hoàn toàn vào tự nhiên.

       Tất nhiên, khát vọng cai trị tự nhiên, ngang hàng với tự nhiên của người Việt không có nghĩa là muốn đưa tự nhiên xuống “hàng dưới” để con người thoải mái tàn phá, khai thác và bóc lột, mà hơn hết, người Việt muốn sự hiện diện của mình trong hàng ngũ các thần cai quản tự nhiên với mong muốn hạn chế bớt những hiểm hoạ, những thiên tai do tự nhiên gây ra làm ảnh hưởng đến cuộc sống, sự sinh tồn của con người, để rồi từ đó lại ban phát của cải, hạnh phúc, và cuộc sống tốt đẹp hơn cho những người đang sống ở trần gian. Trong mối quan hệ giữa người Việt với tự nhiên thì hơn hết và rõ nét hơn cả là thái độ tôn trọng và sùng bái tự nhiên, coi trọng và đối xử với tự nhiên như đối xử với người mẹ của mình của mình vậy. Có như vậy người Việt nói chung, người Việt vùng đồng bằng Bắc Bộ nói riêng mới có thể sinh tồn được trong một môi trường tự nhiên đầy những biến đổi khôn lường.

     4. Nhìn chung, tín ngưỡng thờ Mẫu, mặc dù mới chỉ dừng lại là một tín ngưỡng chứ chưa phát triển thành một thứ tôn giáo theo nghĩa hoàn chỉnh của nó, nhưng nó đã phần nào thể hiện được những quan niệm mang tính trực quan cảm tính về vũ trụ, về con người, về mối quan hệ giữa con người với tín ngưỡng, con người với xã hội.

       Với niềm tin vào sức mạnh cai trị và ban phát các hiện tượng tự nhiên của các Thánh Mẫu, các Mẹ, người Việt đã xây dựng cho mình một triết lý nhân sinh phù hợp với hoàn cảnh và môi trường sống của mình. Đó là triết lý sống hoà hợp nhưng chứa đựng những khát vọng vươn lên trong việc năm vững và chế ngự các hiện tượng tự nhiên để phục vụ cho hoạt động sống của con người. Và vì vậy, chúng ta cần phải biết sàng lọc và loại bỏ những gì là mê tín dị đoan, những gì là hủ tục, là “buôn thần bán thánh” đang xảy ra đâu đó ở một vài cơ sở thờ tự của tín ngưỡng Mẫu, đồng thời phải biết chắt chiu, giữ lại những giá trị được thẩm thấu bên trong những niềm tin và hoạt động thờ cúng của tín ngưỡng thờ Mẫu. Có như vậy chúng ta mới có thể khẳng định được rằng “tín ngưỡng thờ Mẫu là một giá trị văn hoá tinh thần cao đẹp của Việt Nam. Đó là tinh hoa được chắt lọc trong suốt chiều dài lịch sử, là biểu tượng cho sức mạnh của cộng đồng cho sự sáng tạo và phát triển không ngừng của dân tộc Việt Nam. Trong truyền thống văn hoá ấy của dân tộc, Mẫu đã trở thành biểu tượng cho ý chí dựng nước và giữ nước, cho chủ nghĩa yêu nước Việt Nam”8.

Chú thích:

1. Trần Quốc Vượng, Cơ sở văn hoá Việt Nam, Nxb Giáo dục, 1997 tr19-20.

2. Hồ Sỹ Quý (CB), Mối quan hệ giữa con người và tự nhiên trong sự phát triển xã hội, Nxb KHXH, H, 2000, 37.

3. C.Mac và Ph.Anghen, Toàn tập, tập 3,Nxb CTQG,HN,1993,tr12

4. C.Mác và Ph.Ănghen,Sdd,tập 20 (1994), tr 655.

5. Nguyễn Đăng Thục, Tư tưởng Việt Nam, Nhà sách Khai Trí, Sài Gòn,1963, Sdd, tr 20.

6. Nguyễn Minh San, Tiếp cận tín ngưỡng dân dã Việt Nam, Nxb Văn hoá Dân tộc, Hà Nội,1998, tr 12.

7. Nguyễn Đăng Thục, Sdd, tr 50.

8. Ngô Đức Thịnh (CB) (2004), Đạo Mẫu và các hình thức Shaman trong các tộc người ở Việt Nam và Châu Á, Nxb Khoa học xã hội, H. tr.18.


TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. C.Mác và Ph..Ăngghen (1993), Luận cương về Phoiơbắc, Toàn tập, tập 3, Nxb Chính trị Quốc gia, H.

2. C.Mác và Ph..Ăngghen (1994), Biện chứng của tự nhiên, Toàn tập, tập 20, Nxb Chính trị Quốc gia, H.

3. Hồ Sỹ Quý (CB) (2000), Mối quan hệ giữa con người và tự nhiên trong sự phát triển xã hội, Nxb Khoa học Xã hội, H.

4. Nguyễn Minh San (1994), Tiếp cận tín ngưỡng dân dã Việt Nam, Nxb Văn hoá dân tộc, H.

5. Ngô Đức Thịnh (CB) (2004), Đạo Mẫu và các hình thức Shaman trong các tộc người ở Việt Nam và Châu á, Nxb Khoa học xã hội, H.

6. Nguyễn Đăng Thục (1963), Tư tưởng Việt Nam, Nhà sách Khai Trí, Sài Gòn

7. Trần Quốc Vượng (1997), Cơ sở văn hoấ Việt Nam, Nxb Giáo dục, H.

                        Nguồn: Hội thảo quốc tế VN học lần 3, ngày 4-7 tháng 12 năm 2008.