27 November 2014

FitzGerald. Sự bành trướng của Trung Hoa xuống phương Nam

Nguồn: C. P. FitzGerald, The Southern Expansion of the Chinese People, 
New York & Washington: Preager Publishers, 1972. (Chapter Three: Chinese Expansion By Land: Yunnan, các trang 39-59)

Vân Nam, một trong các tỉnh nằm ở góc xa nhất phía tây nam của Trung Hoa, đã là một phần liên hợp của Đế Quốc và Cộng Hòa sau này kể từ giữa thế kỷ thứ mười ba, khi nó bị chinh phục bởi quân Mông Cổ, vào lúc đó đang cai ttrị phần lớn lãnh thổ Trung Hoa.  Thế kỷ thứ mười ba trong lịch sử Trung Hoa gần như thời kỳ hiện đại, chắc chắn không phải là một giai đọan quá cổ xưa.  Bởi mười lăm thế kỷ trước khi có cuộc chinh phục của Mông Cổ tại Trung Hoa, Vân Nam đã không được biết đến như một tỉnh, mà như một vị trí của một vương quốc xa lạ và thường đối nghịch.  Danh xưng Vân Nam được đặt ra lần đầu tiên hồi thế kỷ thứ ba sau Công Nguyên khi triều đại phía tây, nhà Thục Hán (Shu Han), một trong ba nước thời Tam Quốc, đã áp đặt quyền chủ tể ngắn ngủi trên một vài phần của xứ sở này.  Vân Nam có nghĩa “Phía Nam Của Các Đám Mây”, và cái tên mang nhiều chất thơ này thực sự mô tả đặc tính khí hậu của nước này.  Cao nguyên của Vân Nam, ở phía tây có cao độ 7,000 bộ Anh (feet), đổ dốc theo hướng đông nam xuống  còn khoảng 4,000 bộ Anh, thực sự là nằm ở phía nam của các đám mây, các tỉnh nhiều mây giăng ẩm ướt của Tứ Xuyên và Quý Châu.  Tục ngữ có câu nói về tỉnh thứ nhất không mấy tốt  “các con chó của Tứ Xuyên sủa lên khi mặt trời rọi sáng”, ám chỉ sự hiếm hoi của hiện tượng này.  Về tỉnh thứ nhì, Quý Châu, tục ngữ nói “Quý Châu không bao giờ có ba ngày khí hậu tốt (liền nhau)” – và bổ túc thêm rằng nó không bao giờ có khoảng đất bằng dài ba dặm [li, tiếng Hán trong nguyên bản, ND] hay ba đồng tiền bạc, với âm điệu theo vần trong tiếng Hán. ( “Kueichou mei yu san t’ien ch’ing, san li p’ing, san k’uai yin.”).  Nhưng tại Vân Nam khí hậu thì khô và ấm, thời tiết nhiệt đới của nó được ôn hòa nhờ cao độ, mùa đông khô ráo kéo dài được đền bù bởi các giòng suối và sông luôn luôn tràn trề chảy xuống từ các rặng núi cao của nó.

Các rặng núi vĩ đại ôm sát cạnh sườn của cao nguyên này, từ bắc xuống nam, chia xứ sở tại bên phía tây thành các thung lũng hẹp và sâu, và tại bên phía đông thành các thung lũng rộng hơn, mở ngỏ thoáng hơn, gồm chứa các hồ nước lớn, hay được tạo thành từ đáy các hồ mà nước đã rút đi.  Về hướng tây bắc núi vươn cao tới 20,000 bộ Anh, giảm dần khi chúng xuôi nam, xuống còn ít hơn phân nửa cao độ đó.  Nhưng các ngọn núi hiếm khi cao hơn cao nguyên dưới bốn hay năm nghìn bộ Anh tại bất kỳ khu vực nào.  Các ngọn núi thì dốc và tại nhiều nơi còn bị rừng rậm bao phủ, không thích hợp cho việc canh tác; các cao nguyên và các thung lũng là các vùng đất phong phú được tưới nước rất tốt trong mọi mùa, không bao giờ sợ gặp nạn hạn hán, và thường cũng tránh được nguy cơ bị lụt.  Đó là một đất nước được sắp đặt bởi thiên nhiên để ưu đãi cho sự định cư nặng tính chất địa phương của các dân tộc canh nông bị ngăn cách, bởi các rặng núi cao không người ở, với các láng giềng gần cận nhất.  Điều này trong thực tế là lịch sử chủng tộc của Vân Nam, một lich sử của sự chia cắt manh múng, không phải chỉ thành các nhóm chủng tộc khác biệt tại các thung lũng khác nhau, mà cũng còn giữa một dân tộc trên các vùng đất tốt với các dân tộc kém tiến bộ hơn ở các rặng núi trên cao so với họ.  Chính bởi thế đã luôn luôn có, và hãy còn kéo dài đến nay, các sự phân chia theo hàng dọc cũng như hàng ngang trong các cư dân của Vân Nam.  Những dân tộc mạnh hơn chiếm cứ các thung lũng trồng lúa gạo, kẻ yếu hơn bị đẩy lên trên núi, rất thường lại xua đuổi các dân tộc sơ khai hơn nữa lên đến các mức độ cao nhất.  Các sắc dân sinh sống bằng săn bắn và thu lượm thực phẩm có thể sống sót ở đó, bởi có đầy thú để săn bắn.  Dưới thấp hơn, kiểu canh tác “chặt cây rồi đốt rẫy, làm hủy hoại các khu rừng, được thực hành rộng rãi.  Bằng chứng về các tầng lớp còn lưu tồn của các dân tộc biến đổi, rất khác biệt về văn hóa, ngôn ngữ và lối sống, cho thấy người Trung Hoa không thể nào là các kẻ xâm lăng đầu tiên đến chiếm chỗ các kẻ canh tác tại các thung lũng và bờ hồ màu mỡ.

Vân Nam đã nhiều lần bị xâm lăng, và chiếm ngụ, một phần hay trên một quy mô rộng lớn bởi các dân mới tới.  Nguồn gốc của các sự di chuyển thời tiền lịch sử này và các dân tộc cấu thành họ không thể bị khám phá, và khảo cổ học vẫn chưa chiếu rọi ít ánh sáng nào về thời tiền sử của Vân Nam.  Ít nhất có thể nói rằng các con đường theo đó họ phải đi qua có thể phỏng đoán được, nếu không phải chỉ vì có quá ít con đường khả dĩ thông lưu.  Một số dân tộc đã xuống từ cao nguyên Tây Tạng, vẫn còn cao hơn cao nguyên Vân Nam, bởi vùng thung lũng cao của sông Dương Tử và thượng lưu sông Cửu Long, các con đường hiện vẫn còn được sử dụng như các xa lộ từ Vân Nam sang Tây Tạng.  Các ngọn đèo thì cao, các thung lũng thường rất hẹp, và các con sông nhiều đá ngầm và chảy thật xiết khiến không thể hải hành.  Các con đường như thế chỉ có thể được sử dụng với sự chấp thuận của các cư dân vùng thung lũng, bởi chúng dễ dàng bị phong tỏa.  Rất nhiều phần rằng sự thẩm nhập chứ không phải là xâm lăng đã là khuôn mẫu của sự di chuyển từ phương bắc vào Vân Nam.  Về phía đông bắc một con đường hơi dề dàng hơn dẫn tới Vân Nam từ miền tây của Tứ Xuyên, thành phố Suifu trên thượng lưu sông Dương Tử đã là điểm khởi hành.  Tuy thế, con đường này, như không thể tránh khỏi đối với bất kỳ hành trình nào tại Vân Nam, băng qua nhiêu rặng núi cao, chính yếu xuyên ngang cao nguyên.  Nó vẫn còn được sử dụng trên một tầm mức lớn bởi các đoàn lữ hành bằng la và lừa, vận tải lụa Tứ Xuyên sang Miến Điện và từ đó, bằng tàu chạy bằng hơi nước trên sông và hành lang trên biển đến Calcutta, mãi cho tới thời Thế Chiến Thứ Nhì.  Con đường đoàn lữ hành đi từ Suifu đến Bhamo trên sông Irrawaddy [Miến Diện, ND] dài hơn sáu trăm dặm.  Con đường này là con đường mà nhiều đạo quân đã đi qua, đặc biệt trong các thế kỷ trước đó khi mà Quý Châu chưa được bình định.

Con đường rõ rệt nhất, từ điểm giới hạn hải hành trên các con sông thuộc phía tây tỉnh Hồ Nam, các con sông là phụ lưu của sông Dương Tử, là con đường chạy ngang qua tỉnh Quý Châu.  Các rặng núi ở đây thấp, mặc dù gồ ghề; rặng núi giáp ranh với Vân Nam lại là rặng cao nhất.   Trong hồi cuối thời đế chính (triều đại Mãn Châu), đây là con đường chính từ Bắc Kinh đến Vân Nam.  Cũng chính do con đường này mà hoàng đế Vĩnh Lạc nhà Minh đã có các phiến đá cẩm thạch to lớn, vẫn còn tô điểm cho các bậc thang của Cấm Thành, được kéo hàng trăm dậm băng ngang núi đồi và thung lũng cho đến khi chúng được thả thành bè tại miền tây Hồ Nam và đến Bắc Kinh qua ngả sông Dương Tử và Đại Vận Hà (Grand Canal), một khoảng cách hơn ba nghìn dặm một chút.  Trong các thời trước đây, con đường Quý Châu ít được sử dụng hơn, bởi vì tỉnh vẫn chưa được bình định và vẫn còn bị chia cắt bởi các nhóm thị tộc đối nghịch nhau cho đến khi các hoàng đế nhà Minh chinh phục nó vào hồi đầu thế kỷ thứ mười tám.  Ít trực tiếp hơn, mặc dù quan trọng cho một vài ngành mậu dịch, là con đường từ điểm giới hạn hải hành trên sông Tây Giang (West River) (chảy ra biển ở phía dưới Thành Phố Quảng Châu (Canton), xuyên qua miền tây bắc của tỉnh Quảng Tây và sau đó băng ngang cao nguyên Vân Nam để đến Côn Minh (K’unming), tỉnh lỵ.  Đây là con đường nối liền Vân Nam với miền nam Trung Hoa, không phải với các tỉnh miền bắc nơi mà từ đó thẩm quyền, các đội quân và quyền lực thường được phóng ra.

Rất ít, nếu có, dòng sông nào của Vân Nam là lối đi cho du lịch hay mậu dịch, và không có dòng sông nào có thể hải hành trong biên giới của tỉnh.  Tại phía tây, ba con sông vĩ đại, Salween, Cửu Long và Dương Tử, chảy vào các thung lũng song song rất sâu trong vài trăm dặm, chỉ bị phân cách bởi các rặng núi cao, lởm chởm.  Sau đó chúng phân tán, sông Dương Tử hướng về phía bắc và rồi quay sang phía đông, sông Cửu Long tiếp tục xuôi nam đến Căm Bốt và Lào, sông Salween chảy vào Miến Điện.  Ba con sông mà các dòng nước chỉ lần lượt cách nhau ba mươi dặm tại miền tây Vân Nam đã đổ ra biển ở những địa điểm cách xa nhau biết bao, ở vùng phụ cận của Thượng Hải, Sàigòn và Ngưỡng Quang (Rangoon).  Các thung lũng cao của chúng ở phía đông có độ cao hơn vài nghìn bộ Anh (feet) so với phía tây: sông Salween chảy ở độ cao khoảng 2,000 bộ Anh tại Vân Nam, sông Cửu Long ở độ cao khoảng 4,000 bộ Anh, và sông Dương Tử trên cao, có cao độ 6,000 bộ Anh trên mặt biển khi nó đột ngột uốn khúc về hướng bắc và hướng đông, cắt đôi rặng núi có độ cao 20,000 bộ Anh.  Nằm giữa các thung lũng sâu này là các rặng núi thường vượt quá 12,000 bộ Anh và lên cao hơn nữa khi hướng về phía đông.  Các thung lũng thì hẹp, cung cấp rất ít đất khả canh, và độ dâng cao và hạ thấp của dòng sông giữa mùa hè và mùa đông (hè là mùa của nước dâng cao) có thể đo bằng hàng bộ Anh.  Các thung lũng này, đặc biệt các thung lũng của sông Cửu Long và sông Salween, bị tàn phá bởi một loại sốt rét; đặc biệt hiểm ác, và người Trung Hoa sẽ không định cư tại những nơi đó; ngay các khách du hành cũng vội vã đi ngang qua chúng và không bao giờ nghỉ đêm tại vùng thung lũng.  Sông Tây Giang, tạo thành lộ trình huyết mạch của các tỉnh miền nam Trung Hoa, Quảng Tây và Quảng Đông, được nâng lên cao tại cao nguyên Vân Nam, nhưng không thể hải hành được cho đến sau khi nó đến được Quảng Tây.

Các rào cản cho việc giao tiếp với các người bên ngoài xem ra, và thực đáng sợ, ở các biên giới phía tây của Vân Nam, hơn là ở phía đông hay phía nam; song chúng đã được qua lại trong nhiều thế kỷ bởi các nhà mậu dịch và các khách du hành, nếu còn ít thường xuyên hơn nhiều bởi các đội quân.  Một khi khách du hành đã chuyển sang con sông Salween và phụ lưu của nó, độ dốc xuống ở Miến Điện và thung lũng Irrawaddy thì tương đối dễ dàng, dù đôi khi có nguy hiểm.  Con sông vĩ đại mang lại một sự tiếp cận dễ dàng đến biển, và các chuyến du hành cận duyên đã có thể nối liền Miến Điện và Ấn Độ.  Ít có sự nghi ngờ nào rằng một vài loại tiếp xúc đã hiện diện dọc theo con đường gián tiếp này từ những thời kỳ ban sơ nhất, ngay dù nó bị giới hạn lúc đầu vào hoạt động mậu dịch giữa các thị tộc.  Con đường trực tiếp sang Ấn Độ, băng ngang qua các cánh rừng của miền bắc Miến Điện tới Manipur và các thung lũng vùng Assam thì khó khăn hơn và ít an toàn hơn.  Ngay tthời hiện đại, các khu rừng này vẫn còn là căn cứ của các bộ lạc săn người, chỉ đem lại một sự đón tiếp rùng rợn cho các khách lữ hành.  Sự nối kết giữa Vân Nam là với Đông Nam Á, Miến Điện và Việt Nam, chứ không trực tiếp với Ấn Độ.  Con đường tới Việt Nam, ngày nay là con đường rầy xe hỏa được xây dựng trong những năm đầu tiên của thế kỷ thứ hai mươi bởi người Pháp, không phải dễ dàng hay được sử dụng nhiều trong thời cổ xưa. Độ đổ dốc từ cao nguyên Vân Nam thì rất cheo leo, và nhiều khe sông cắt ngang con đường.  Thung lũng sông Hồng, tạo thành châu thổ phì nhiêu của Bắc Kỳ, bị nhiễm chứng sốt rét và chật hẹp, mặc dù dòng sông này, phát sinh từ cao nguyên Vân Nam, có vẻ mang lại một sợi dây liên kết tự nhiên và hiển nhiên giữa Vân Nam và Việt Nam.  Như quá thường xảy ra tại Vân Nam, con sông này thực sự là vô dụng cho mục đích này, và khách du hành phải đi tìm một con đường xem ra gian lao hơn,  xuyên qua núi đồi.  Khi người Pháp có được đặc nhượng mở đường xe hỏa, chính phủ đế triều Trung Hoa đã từ chối chấp thuận con đường dẫn tới thung lũng sông Hồng, vốn sẽ tương đối dễ dàng hơn để xây cất, với lý do rằng khu vực đó quá nguy hại cho sức khỏe, và rằng một đường rầy hỏa xa sẽ không phục vụ gì cho mục đích kinh tế ở đó.  Lý do thực sự rằng họ tin con đường qua núi sẽ quá khó khăn và quá dốc khiến không một đường sắt nào trong thực tế lại có thể xây cất được trên hàng lối đó.  Tuy thế người Pháp đã xây dựng nó, một trong những lộ trình ngoạn mục nhất của thế giới, bắc ngang các khe sông sâu và chui qua từ rặng núi này sang rặng núi kia.  Về mặt chiến lược, như được chứng tỏ trong Thế Chiến Thứ Nhì, nó thì vô dụng; chỉ cần giựt sập vài cây cầu và phong tỏa một ít đường hầm sẽ làm cho lộ trình không thể thông qua được.  Người Nhật Bản không bao giờ xâm nhập vào Vân Nam bằng con đường này.  Về mặt kinh tế, nó chỉ có giá trị tối thiểu, nhưng như thành tích về kỹ thuật, nó thật tuyệt diệu.

Các sự tiếp xúc đầu tiên được ghi chép lai giữa Trung Hoa và Vân Nam có niên đại từ cuối thế kỷ thứ tư trước Công Nguyên, và đã không phải được thực hiện bởi các vương quốc Trung Hoa vào thời khoảng đó tại miền bắc Trung Hoa, mà bởi nhà Ch’u [?], vương quốc phương nam đặt trung tâm tại trung lưu sông Dương Tử, nhưng cũng bao gồm tỉnh Hồ Nam ngày nay.  Nước Ch’u không đúng nghĩa là một vương quốc Trung Hoa; nó không bao giờ được chấp nhận một cách thoải mái như một trong các thành viên của khái niệm cổ thời về Vương Quốc Trung Tâm (Miđle Kingdom), trên đó các nhà vua nước Chou [? Chu] đã trị vì hơn là cai trị.  Ch’u căn bản có thể thuộc sắc dân T’ai (Thái hay Đại [?]) hay Miao (Mèo), hay như một số tác giả xem xét, thuộc một sắc dân hỗn hợp, bao hàm một loạt nhiều dân tộc cổ xưa tại miền nam và trung Trung Hoa.  Chính nước đó về văn hóa chịu ảnh hưởng Trung Hoa sâu đậm là điều chắc chắn từ nhiều sự khám phá khảo cổ đã được tìm thấy tại các khu vực vốn là một phần của nước Ch’u và cũng từ nhiều bằng chứng văn hóa Trung Hoa.  Vào cuối thế kỷ thứ tư trước Công Nguyên, cuộc tranh chấp giữa các vương quốc của Trung Hoa dành quyền chủ tể tối cao thế giới Trung Hoa đã gia tăng mãnh liệt.  Các nước cạnh tranh chính yếu sẵn có mặt là vương quốc tây bắc của nước Ch’in [? Tần], được nghĩ rằng chỉ có một phần nào Trung Hoa về tính chất chủng tộc, và vương quốc miền nam của nước Ch’u, là nước, như được nhận thấy, chắc chắn có phần lớn giống dân phi-Hán (non-Han).  Nước Ch’in liên tục sáp nhập phần lớn các vương quốc miền bắc cũ, và vì thế, trở nên mạnh hơn. Nước Ch’u, có các nước cạnh tranh nằm phía hạ lưu sâu hơn của sông Dương Tử, bị ngăn cản không cạnh tranh hữu hiệu với kẻ thừa kế phương bắc bởi các sự phân trí này, và vào cuối thế kỷ thứ tư đã tìm kiếm một vài sự bù đắp bằng cách bành trướng về phương nam, vào các miền vượt quá Hồ Nam, khi đó bị chiếm ngụ bởi một số dân tộc ít tiến bộ hơn.

Vua Wei của nước Ch’u (339-329 trước C0ông Nguyên) đã phái một viên tướng, thành viên của hoàng gia, tên là Chuang Ch’iaso đi mở rộng uy quyền của ông theo hướng này.  Chuang Ch’iao có vẻ đã dùng lộ trình xuyên qua Quý Châu cho ít nhất một phần trong lực lượng của mình, mặc dù các đơn vị tăng phái khác có thể đã đi theo con đường từ vùng cao trên sông Dương Tử tại Suifu xuyên qua Chaot‘ung để đến Côn Minh.  Con đường này khi đó đi ngang qua vương quốc Pa (Ba) tại miền nam Tứ Xuyên, là nước đã giao chiến với láng giềng phía bắc của nó, nước Shu [Thục?] và có lẽ vì thế không thể ngăn cản bước tiến của quân đội nước Ch’u.  Tướng Chuang Ch’iao đã có thể tiến hành lộ trình của mình đến đồng bằng Côn Minh, bên bờ của hồ nước vĩ đại Tien Lake [Điền Trì?].  Đây là khu vực lớn nhất và là một trong những khu vực canh tác lúa gạo phì nhiêu nhất của Vân Nam, và thành phố Côn Minh ngày nay, tỉnh lỵ của tỉnh, tọa lạc ở đó.  Chuang Ch’iao đã sáp nhập miền này vào nước Ch’u, và gọi nó là Tien [đất Điền?].  Từ ngữ này không có nghĩa nào khác trong Hoa ngữ ngoài địa danh để chỉ hồ và miền đất, ngoại trừ một tĩnh từ phát sinh khả hữu có nghĩa “vô giới hạn, bao la”.  Nhiều phần đó là một danh từ phát sinh từ các [họ của, ND] người làm chủ quận huyện trước đây.

Rất ít điều được hay biết về các người dân có thể đã sống ở đó.  Một khám phá khảo cổ học gần đây không quá xa Côn Minh, tại địa điểm đồi núi được gọi là Shih Chia Chai, đã phơi bày ra ánh sáng các đồ vật bằng đồng được trang trí với các hình dạng rõ ràng có tính cách phi-Trung Hoa (non-Chinese), và có vẻ để mô tả một sắc dân chăn dắt các loại gia súc trên các cánh đồng đã được trình bày một cách phong phú.  Niên đại của các đồ vật này được phỏng đóan trên căn bản cách vẽ là gần hay cùng thời với sự chinh phục của nước Ch’u, và nếu các đồ vật chứng tỏ sự du nhập kỹ thuật đồ đồng Trung Hoa, chúng cũng phô bày sức mạnh của một truyền thống nghệ thuật phi-Trung Hoa.  Quân đội nước Ch’u chắc chắn không đủ mạnh để đánh đuổi dân bản xứ tại vùng đất đó, và có lẽ đã không được tháp tùng bởi nhiều phụ nữ của họ.  Không bao lâu các sự phát triển tại miền tây Trung Hoa khiến cho thuộc địa xa xôi này còn bị cô lập hơn nữa.

Trong năm 316 trước Công Nguyên, vương quốc nước Ch’in hung hổ, lợi dụng cuộc chiến tranh tương tàn giữa hai vương quốc Tứ Xuyên là Shu và Ba (lần lượt tập trung tại Thành Đô (Ch’engtu) và Trùng Khánh (Chungking) ngày nay) đã xâm lăng và chinh phục cả hai vương quốc, sáp nhập toàn thể tỉnh rộng lớn Tứ Xuyên vào nước Ch’in.  Biến cố này, nguyên làm gia tăng vượt mức quyền lực và tài nguyên của nước Ch’in, có lẽ đã là một yếu tố quyết định cho sự chiến thắng tối hậu của nó trong các cuộc tranh chấp không ngừng của thời Chiến Quốc (Warring States).  Hậu quả tức thời của nó là cắt đứt thuộc địa tại đất Điền (Tien) ra khỏi sự tiếp xúc trực tiếp với nước Ch’u.  Tướng Chuan Ch’iao có vẻ đã cố gắng để tái lập giao thông băng ngang Quý Châu, nhưng gặp phải sự kháng cự của các thị tộc địa phương quá mạnh mẽ.  Chính nước Ch’u giờ đây đang gặp mối nguy hiểm lớn lao hơn từ cuộc xâm lăng của nước Ch’in vẫn tiếp tục đe dọa nó cho tới khoảng 90 năm sau đó, trong năm 223 trước Công Nguyên, nó đã bị chinh phục bởi nước Ch’in trong sự sụp đổ toàn diện của các vương quốc cũ.  Nước Tần (Ch’in), thbông  nhất Trung Hoa lần đầu tiên, đã không quan tâm đến việc theo đuổi cuộc chinh phục này bằng một chiến dịch tiền vào miền tây nam xa xôi, và đất Điền (Tien) đã được để yên.  Chung Ch’iao đã cai trị nó như một phó vương kinh lược của nước Ch’u, nhưng các người kế vị ông đã trở thành vua đất Điền (Tien).

Có lẽ (có một số chỉ dẫn văn hóa về sự kiện này) rằng nhiều người tỵ nạn từ vương quốc Pa trước đây tại Tứ Xuyên đã chạy trốn xuông phương nam, đến đất Điền (Tien).  Nó trở nên một tiêu điểm biệt lập của văn hóa Trung Hoa tại một khu vực chính yếu vẫn chưa bị đụng chạm bởi các ảnh hưởng như thế, và Côn Minh, vùng thừa kế hiện đại của nó vẫn còn là trung tâm chính của quyền lực và văn minh Trung Hoa tại Vân Nam cho đến thời hiện đại.  Trong hai thế kỷ kế tiếp của đế quốc đại Hán tại Trung Hoa, đất Điền (Tien) vẫn có thể duy trì nền độc lập cho đến thời trị vì của Hán Vũ Hoàng Đế (140-86 trước Công Nguyên).  Nhà vua đó đã tiến hành nhiều cuộc chinh phục và chiến tranh để mở rộng lãnh địa của mình, và vua đất Điền (Tien), chắc hẳn bị ấn tượng bởi cuộc chinh phục của nhà Hán tại Nam Việt (Quảng Châu) và sự xâm nhập ngoại giao đồng thời tại vương quốc Yeh Lang [? Dạ Lang, ND], thuộc Quý Châu (quanh vùng Ts’unyi ngày nay) đã tìm cách sự công nhận với sự thỏa thuận của chính ông bằng cách thừa nhận quyền chủ tể của Hoàng Đế nhà Hán.  Việc này được chuẩn thuận, và vương quốc của ông ta đã được cải danh trên hình thức thành Yi Chou Đô Hộ Phủ.  BởI Nhà Vua được xác nhận là người cai trị, điều này không tạo ra mấy sự khác biệt, mà cho phép ông cảm thấy an toàn và bảo đảm.  Nó cũng khai mở một băng tần mới để tiếp xúc với Trung Hoa, và như thể tăng cường ảnh hưởng của Trung Hoa trong vùng.  Không có vẻ là Hán Vũ Đế hay các kẻ thừa kế ông đã đưa ra bất kỳ nỗ lực nào để áp đặt sự cai trị trực tiếp hơn của Trung Hoa hay mở rộng lãnh địa của họ tại Vân Nam.

Họ có duy trì một sự quan  tâm đến tỉnh hạt xa xôi này vì một lý do khác.  Trong năm 138 trước Công Nguyên, Hán Vũ Đế có phái một sứ giả, Chang Ch’ien, đến các vương quốc vùng trung Á Châu vốn được thành lập từ các mảnh vỡ của đế quốc của đại đế Alexander tại miền giờ đây là Trung Á thuộc Nga.  Vị sứ giả có nhìn thấy tại đó vải vóc và nhiều cây tre, được trao đổi từ Ấn Độ, mà ông ta nhìn như là các sản phẩm của Tứ Xuyên, một tỉnh lớn ở phía tây của đế quốc Hán.  Khi trở về ông đã báo cáo sự kiện này, trong số nhiều tin tức khác, và Triều Đình Trung Hoa lần đầu tiên đã khám phá rằng một con đường mậu dịch đến Ấn Độ có hiện diện từ Tứ Xuyên băng ngang qua Vân Nam.  Nhiều sứ giả sau đó đã được phái đi thăm dò về con đường, nhưng điều đuợc ghi chép là không có người nào lại hoàn tất hành trình bao giờ, và rằng phần lớn đã không quay trở về.  Điều bị nghi ngờ  rằng liệu Chang Ch’ien lại không có thể bị nhầm lẫn một số sản phẩm của Ấn Độ với sản phẩm của Tứ Xuyên hay sao, nhưng sự đề cập đên “cây tre lớn” có vẻ khiến ta nghĩ rằng ông ấy đã nói đúng.  Các cây tre rất lớn mà một cộng đồng có thể chế tạo thành một cái rổ nhỏ hữu dụng, được biết là chỉ có tại Trung Hoa.  Nếu “vải vóc” của nước Shu là một vài loại sản phẩm lụa sống, sản phẩm chỉ có từ Trung Hoa vào thời điểm đó, sự xác định sẽ vũng chắc.

Con đường đã hiện hữu trong các thời đại sau này, như đã được nói tới, băng ngang Vân Nam đến Miến Điện.  Có thể ngay vào thời điểm đó, hàng hóa mậu dịch khi đó đổ dọc xuống sông Irrawaddy và theo đường biển sang Ấn Độ.  Thuật hải hành của Ấn Độ, như ảnh hưởng của Ấn Độ Giáo khắp Đông Nam Á chứng thực, đã sẵn được phát triển tốt đẹp.  Các sứ giả nhà Hán có thể đã ngần ngại đi xa đến mức phải băng ngang các biển không hay biết gì (như sứ giả được phái bởi Trung Hoa đến La Mã sau này lấy làm nhụt chí trước việc băng ngang hoặc Vịnh Ba Tư hay Hắc Hải) hay có thể họ đã tìm cách vươn tới Ấn Độ bằng con đường trực tiếp xuyên qua miền bắc Miến Điện.  Nếu đúng như thế, số phận của họ đã bị giải quyết bởi các bộ lạc săn người trong vùng.  Xu hướng này sẽ không nhất thiết có nghĩa rằng không có con đường mậu dịch nào lại có thể hiện hữu xuyên qua xứ sở của họ, bởi trong thời điểm rất gần đây, các thương nhân Trung Hoa có thực hiện một công cuộc mậu dịch như thế, theo các điều khoản đặc biệt và độc quyền.

Các cánh rừng miền bắc Miến Điện là một trong các khu sinh sống cuối cùng của loài tê giác Á Châu và cũng sản xuất ra nhiều thảo mộc hiếm có, giống như các sừng tê giác, là các sản vật vô cùng quý giá trong ngành mua bán dược liệu Trung Hoa.  Cho đến Thế Chiến Thứ Nhì người mua từ khắp nơi của Trung Hoa, và cũng từ Đông Nam Á, thường tụ tập tại Đại Lý (Tali) miền tây Vân Nam trong một hội chợ hàng năm được tổ chức vào tháng Tư, nơi mà các sản phẩm này có thể mua với các giá cả có lợi cho những người thu gom chúng, và vẫn còn sinh lợi rất nhiều cho những kẻ sẽ bán chúng tại các thành phố lớn của Trung Hoa và vùng đất phía nam.  Các người sưu tập là các thương nhân Trung Hoa địa phương thuộc vào các gia tộc đã thiết lập các quan hệ thân thiết với các bộ lạc săn người và là các kẻ duy nhất có thể tiến vào xứ sở họ một cách an toàn.  Chỉ có các thành viên của các gia tộc này mới có thể tiến vào lãnh địa của các bộ tộc.  Họ mang các sản phẩm chẳng hạn như các dụng cụ và vũ khí mà các thị tộc coi trọng, đổi lại họ thu mua các dược thảo và nếu may mắn, một chiếc sừng tê giác, hoặc bằng cách trao đổi hay bằng khả năng mua sắm của chính họ.  Nếu muốn gia tăng nhân số, ngay dù chỉ thêm một người, họ phải trước tiên, thương thảo với các nhà lãnh đạo thị tộc, những kẻ thường chỉ chấp thuận một thành viên mới, kẻ phải có một sự liên hệ gần gũi với những người đã sẵn được chấp nhận.  Người nào khác sẽ mất đầu, ngay dù anh ta đi theo một nhà mậu dịch đã được thừa nhận.  Nhân số được giữ thấp, và sự cạnh tranh ở mức tối thiểu.  Nhưng công việc mậu dịch có lợi cho cả đôi bên được thực hiện một cách có hệ thống từ năm này sang năm kia.  Tại các huyện xa hơn, người Trung Hoa chỉ đến trong mùa đông khô ráo và không được phép, với lệnh tử hình, ở lại hết năm.  Không có phụ nữ nào được chấp thuận.  Tại ven biên của vùng, đôi khi có thể đi ngang qua trong mùa hè, nếu gia đình mậu dịch rất nổi tiếng và lý do cho một sự trì hoãn lâu dài, chẳng hạn như bệnh tât, thì rõ ràng.

Hệ thống này đã tiếp diễn ttrong nhiều thế hệ, và có lẽ lâu đời hơn bất kỳ tài liệu hay hồi ức còn lưu tồn nào.  Có vẻ với khả tính ít nhất, rằng loại mậu dịch này, được biết từ các nơi khác trên thế giới, đã sẵn hiện hữu từ thời nhà Hán và rằng một số sản phẩm của Trung Hoa được truyền từ bộ tộc này sang bộ tộc khác, băng ngang qua miền bắc Miến Điện để tới Ấn Độ.  Nhưng nếu các tình trạng mậu dịch khi đó cũng giống như trong hiện thời, điều rất bất thường rằng bất kỳ sứ giả Trung Hoa nào từ một vùng xa xôi lại có thể được chấp nhận, hay sống sót sau một mưu toan nhằm xâm nhập vào vùng đất của các bộ tộc.

Có thể như một kết quả của các nỗ lực này nhằm tìm kiếm một con đừng sang Ấn Độ băng ngang Miến Điện mà các giới chức thẩm quyền nhà Hán đã thiết lập một xác quyền cai quản vùng nằm phía tây sông Cửu Long.  Ở đó họ đã thiết lập, hay đặt tên, một Đô Hộ Phủ (hay Chỉ Huy Sứ) (Commandery) gọi là Yungch’ang tại địa điểm của thành phố mang cùng tên cho đến lúc kết thúc triều đại Mãn Châu, nhưng đã được đặt lại tên là Paoshan dưới thời Cộng Hòa.  Người Hán cũng gán tên Lan Thương Giang (Lan Ts’ang Chiang) cho con sông Cửu Long, một cái tên mà dòng sông vẫn mang tại Vân Nam và thường được biết tới bởi người Trung Hoa qua tên nà,y trên suốt dòng chảy của nó.  Các biên giới của Đô Hộ Phủ Yungch’ang được tuyên bố vươn quá sông Salween đến tận thành phố ngày nay là Tengyueh, là trung tâm hành chính cuối cùng của miền tây Vân Nam ngày nay.  Sự xâm nhập về phía tây này không được đi kèm bởi bất kỳ sự bành trướng đáng kể nào vào phương nam của Vân Nam, nơi mặc dù có các rặng núi thấp hơn, chứng bịnh sốt rét lại hoành hành nhiều hơn.  Người Trung Hoa có lẽ hay biết rằng khu vực miền nam Vân Nam này giáp ranh với Việt Nam, vùng mà họ đã sẵn cai trị, và là vùng mà sự tiếp cận qua biên giới với tỉnh Quảng Tây ngày nay thì trực tiếp và dễ dàng hơn nhiều.  Đã không có động lực đặc thù nào để thiết lập thẩm quyền tại miền nam Vân Nam.  Mặt khác, Yungch’ang (hay Paoshan) lại còn là trung tâm giao thương với miền bắc Miến Điện.  Nó chiếm cứ một đồng bằng phì nhiêu trên cao nguyên nằm giữa sông Cửu Long và sông Salween và là trung tâm tự nhiên cho sự quản trị miền tây Vân Nam.  Như tại đất Điền (Tien) (Côn Minh), có lẽ sự cai trị của Trung Hoa mang tính cách gián tiếp, một thủ lĩnh địa phương được nhìn nhận như vị tổng đốc, nhưng bị yêu cầu cung cấp sự bảo vệ và hỗ trợ cho các sứ giả chính thức và khách du hành từ Trung Hoa.

Chính sách của nhà Hán chính vì thế là một sự cai trị gián tiếp, nhưng nó đã thiết lập các bàn đạp dọc theo chiều ngang của Vân Nam gần như sát tới biên giới Miến Điện ngày nay.  Biên giới thực sự được tuyên nhận là bờ phía tây của cao nguyên Vân Nam, trước khi có sự “đổ dốc lớn lao” vào thung lũng sông Irrawaddy, mà Marco Polo  đà mô tả bằng các từ ngữ này nhiều thế kỷ sau này.  Ngay trong thời hiện đại, xứ sở này còn hoang vu và chỉ có ít dân cư ngụ: các thung lũng to lớn của sông Cửu Long và sông Salween, bị chứng sốt rết hoành hành dữ dội, là các rào cản chính, và các rặng núi với rừng rậm nằm giữa chúng cũng là các trở ngại đáng kinh sợ, mọc thẳng đứng từ các khe nước sâu của các con sông.  Mười hai thế kỷ sau này, trong thời nhà Minh, người Trung Hoa đã nối liên cả hai con sông bằng các chiếc cầu treo đong dưa trên các sợi xích sắt to lớn, nhưng sự trợ giúp để du hành này còn vắng mặt trong thời nhà Hán.  Nước sông dâng lên trong mùa hè thường cao hơn cả bảy mười bộ Anh (feet), đến nỗi việc đi phà thành khó khăn và trong thực tế gần như bất khả thi khi con sông gặp lũ.  Đô Hộ Phủ tại Yungch’ang hẳn phải bị cô lập khỏi mọi sự truyền thông với Côn Minh và Trung Hoa đôi khi trong nhiều tháng trời.  Cần có một động lực mạnh mẽ để thiết lập bất kỳ xác quyền nào đối với xứ sở này, và thật khó khăn để nhìn thấy động lực nào khác hơn là sự tìm kiếm một con đường mậu dịch dẫn tới Ấn Độ, sẽ ngắn hơn hành trình mênh mông băng ngang qua miền trung Á Châu và qua vùng Kush của Ấn Độ, hầu có thể khích động được một Triều Đinh xa vời.

Người Trung Hoa có vẻ đã không thực hiện sự bành trướng nào hơn nữa, hoặc trong sự khám phá hay mở rộng chính quyền của họ trong hai thế kỷ của triều đại Hậu Hán (25-221).  Các sự xác quyết quyền chủ tể vẫn được duy trì, nhưng không có sự kiểm soát chặt chẽ hơn được thiết lập.  Lúc có sự sụp đổ của triều đại nhà Hán, đế quốc bị tranh dành bởi ba kẻ tuyên nhận chính là các người đã lập nên ba Vương Quốc (Tam Quốc), trong đó nước yếu nhất là Thục Hán (hay triều đại nhà Hán tại Từ Xuyên [tức đất Thục, ND], vốn chỉ cai trị  ra ngoài tỉnh một chút.  Có lẽ các hy vọng bành trướng của nó bị bác bỏ bởi nước Ngụy ở phương bắc và nước Ngô ở phía đông hùng mạnh hơn, nước Thục Hán đã cố gắng bành trướng theo hướng tây nam vào Vân Nam.  Đây là chính sách của vị đại tha6`n nổi tiếng Chu-ko Liang [Chư Cát Lượng, theo tiếng Hán, không rõ tại sao sách vở Việt Nam lại dịch thành Gia Cát Lượng?, chú của người dịch ?], kẻ đã khống chế Triều Đình của vị vua thứ nhì (và sau cùng) của nhà Thục Hán.  Chu-ko nổi tiếng trong lịch sử Trung Hoa vừa như một đại thần trung thành, tự kiềm chế việc thoán đoạt ngôi báu của một vị vua yếu đuối, vừa như một vị tướng quân kinh nghiệm và tinh khôn, bậc thầy của mưu lược và đột kích, kẻ đã bành trướng thẩm quyền Trung Hoa đến tận vùng tây nam.  Các chiến công này đã trở thành các đề tài của tiểu thuyết và kịch nghệ làm che lấp phần nào bản chất thực sự của công nghiệp táo bạo này.  Chu-ko đã giảm hạ nước chư ha6`u trước đây ở đất Điền (Tien) xuống quy chế một Đô Hộ Phủ do Trung Hoa cai trị trực tiếp, và sau đó mở rộng thẩm quyền của ông theo hướng tây khoảng một trăm dặm cho tới Ch’uhsiung.

Các khu vực này dễ dàng được tiếp cận từ Tứ Xuyên bởi con đường phía bắc từ Suifu, và có thể được kiểm soát bởi bất kỳ quyền lực Trung Hoa nào được thiết lập tại tỉnh Tứ Xuyên, căn cứ địa của nhà Thục Hán.  Xa hơn về phía tây, nơi mà Chu-ko Liang mở chiến dịch vượt qua sông Cửu Long xuống đến biên giới Miến Điện ngày nay, ông đã kiềm chế khỏi việc thiết lập nền cai trị ttrực tiếp của Trung Hoa và còn cự tuyệt cả việc đồn trú các đội quân thường trực.  Ông đã đặt chính sách của mình trên ba lập luận.  Trước tiên, các đội quân đồn trú thường trực tại các miền không thể tiếp cận xa xôi như thế có thể dễ dàng khô cạn thực phẩm tiếp tế.  Chắc chắn rằng việc này đã phản ảnh sự khó khăn lớn lao trong việc băng qua các khe sông sâu trong mùa nước dâng cao.  Thứ nhì, các đội quân đồn trú yếu sẽ là đối tượng để tấn công bởi các dân bộ lạc hãy còn thù hận sau khi bị đánh bại.  Thứ ba, ông tranh biện rằng một sự chiếm đóng thường trực sẽ nuôi nấng sự nghi ngờ nơi chính sách của Trung Hoa, dẫn các thị tộc đến việc tin tưởng rằng cuộc chinh phục trọn vẹn đã được nhắm tới.  Ông cũng bác bỏ chính sách nâng cao  các sắc thuế bộ tộc hay trưng dụng lúa gạo.  Tìm hiểu xứ sở từ các chiến dịch của chính mình, ông nhận thức được sự nghèo đói và nhìn thấy rằng sự cai quản trực tiếp hà khắc sẽ chỉ dẫn đến sự xáo trộn và phản kháng.

Chính vì thế, từ nhật kỳ sớm sủa này mà chính sách thuộc địa của Trung Hoa, nếu người ta có thể sử dụng một từ ngữ rất thường có vẻ gây tổn thương, đã mang một tính chất mà nó đã giữ lại trong nhiều thế kỷ.  Sự kiểm soát trực tiếp của chính quyền Trung Hoa sẽ là giai đoạn cuối cùng của sự xâm nhập.  Trước tiên là các nhà mậu dịch phiêu lưu đên nơi, hay các sứ giả; kế đó các thủ lĩnh của các thị tộc quan trọng được thuyết phục và dụ dỗ với các tước hiệu để nhìn nhận quyền chủ tể của Trung Hoa và cung cấp sự bảo vệ cho các khách du hành. Khi quyền lực Trung Hoa trở nên ổn cố một cách chắc chắn tại miền kề cận, các lãnh địa bộ tộc gần nhất, vào một thời cơ thuận tiện, có thể được đặt dưới thẩm quyền Trung Hoa.  Các thị tộc xa hơn, sau các chiến dịch trừng phạt, một lần nữa được để tự quản dưới quyền chủ tể của Trung Hoa.  Tại Vân Nam, sự phân biệt giữa các lãnh thổ bị sáp nhập hoàn toàn cùng các cư dân của chúng với những vùng hãy còn nằm bên ngoài thẩm quyền trực tiếp của các quan chức tỉnh hạt được gọi là giữa thành phần “shu” với thành phần “sheng”, dịch sát nghĩa “đã nhuần thục (cooked})” (hay “đã chin nhừ” (ripe) với “còn sống sượng”(raw).  Dân chúng thị tộc đã chấp nhận phong tục Trung Hoa và hoàn toàn tùng phục, ngay dù nó vẫn còn sử dụng một ngôn ngữ phi-Trung Hoa trong khi đàm thoại, được chấp nhận như “kẻ đã thuần thục”.  Các bộ tộc hãy còn sống bên ngoài sự cai trị trực tiếp và đã chấp nhận rất ít hay không chấp nận văn hóa Trung Hoa, là “còn sống sượng”.  Điều được hiểu rõ ràng rằng những gì còn sống sượng hôm nay có thể trở thành nhuần nhuyễn ngày mai.

Chu-ko Liang vẫn còn là một anh hùng địa phương tại Vân Nam, tiêu biểu, trong cái nhìn của ngườii Trung Hoa, cho một nhà hành chính lý tưởng của các vùng đất mới được chinh phục, cương quyết, cẩn trọng, nhân đạo và nhìn xa.  Song công việc của ông ta được chứng minh, theo một nghĩa, có tính cách chuyển tiếp.  Sự chinh phục của nhà Thục Hán tại Vân Nam chỉ kéo dài hơn chính triều đại Thục Hán một chút, đã bị đè bẹp trước sự chinh phục của triều đại nhà Tsin (Tấn) mới, đặt căn cứ tại miền bắc Trung Hoa, trong năm 264.  Sự trị vì của nhà Tấn thì ngắn ngủi trên toàn cõi Trung Hoa, bởi trong năm 316 miền bắc bị thất trận trước cuộc xâm lăng to lớn của các dân tộc Tatar (Thát Đát), đã giữ Trung Hoa bị chia đôi thành hai đế quốc, bắc và nam, trong gần ba trăm năm.  Các đề quốc miền nam tiếp theo, và một đế quốc được thiết lập ngắn ngủi chính yếu ở vùng tây bắc Trung Hoa (nhà Bắc Chu: Northern Chou, 558-81) có tuyên xác cai trị trên phần đất cũ của nhà Thục Hán ở Tứ Xuyên.  Trong thực tế, sự tuyên xác này hoặc là quyền chủ tể trên danh hiệu, hay không có bất kỳ nền tảng nào.  Vân Nam, trong thời kỳ phân chia giữa nam và bắc, đã dành lại nền độc lập thị tộc, và rơi vào sự xáo trộn giữa các bộ lạc.  

Cũng có vẻ rằng trong thời kỳ này ảnh hưởng ban đầu của Trung Hoa trên nền văn hóa của nó đã bị thử thách, và một phần bị thay thế bởi một ảnh hưởng ngoại lai mới đến từ hướng tây nam, Phật Giáo, lan tràn tại chính Trung Hoa, kể từ thời cuối nhà Hán, và trở nên rất mạnh tại cả hai nam và bắc đế triều, đã vươn tới Trung Hoa bằng con đường mậu dịch trung Á châu từ Ấn Độ.  Sau này đường biển từ Tích Lan và nam Ấn Độ đến nam Trung Hoa trở nên quan trọng.  Nhưng tại Vân Nam, Phật Giáo thẩm nhập từ Miến Điện, một nước có sự tiếp xúc trực tiếp hơn với Ấn Độ.  Hậu quả, đã có tại các đền đài tưởng niệm sớm nhất của Phật Giáo tại Vân Nam một ảnh hưởng Đông Nam Á mạnh mẽ và hiển nhiên phát sinh từ Ấn Độ, chứ không phải từ Trung Hoa.  Các đền đài tưởng niệm và các công trình nghệ thuật còn tồn tại thì ít ỏi và thường vụn nát, nhưng tính chất trong thể điệu của chúng thì rõ ràng.  Tại vùng viễn tây của tỉnh, giữa con sông Salween và các biên giới của Miến Điện, các bộ tộc địa phương chấp nhận phái Theravada (hay Hinayana, tức Tiểu Thừa) của Phật Giáo, được thịnh hành tại Miến Điện, Căm Bốt và Thái Lan, và phát xuất từ Tích Lan.  Các nước này hãy còn gìn giữ giáo phái này ngày nay.

Vân Nam chính vì thế trong thời đại kế tiếp đã trở thành điểm tiếp xúc và tranh chấp giữa văn minh Trung Hoa và Ấn Độ.  Sự kiểm soát chính trị của Trung Hoa đã bị trôi mất, và sự tái áp đặt của nó đã bị kháng cự một cách mạnh mẽ bởi một vương quốc mới và hung mạnh, bao chùm khắp Vân Nam.  Vương quốc Nam Chiếu này chịu ảnh hưởng văn hóa Ấn Độ một cách đáng kể, biểu hiện trong nghệ thuật Phật Giáo như các đền đài tưởng niệm còn lưu tồn của nó chứng thực.  Nó cũng được tập trung tại một thành phố không được đề` cập đến như một trong các Đô Hộ Phủ cũ của nhà Hán hay các thủ lãnh thị tộc triều cống, Tali (Đại Lý).  Vân Nam vì thế không có cùng lịch sử với vương quốc cũ của Nam Việt, vùng Quảng Châu hiện đại.  Sau cuộc chinh phục sơ khởi và chiếm đóng một phần của Trung Hoa, Vân Nam đã dành lại sự độc lập, tạo lập một vương quốc hùng mạnh, kháng cự lâu dài trước một triều đại Trung Hoa hùng mạnh nhất, nhà Đường (T’ang), và đã không bị đè bẹp cho đến khi phải khuất phục trước sức mạnh áp đảo của cuộc xâm lăng của Mông Cổ.  Trong một vài chiều hướng, lịch sử của nó tương tự như lịch sử của Việt Nam, nhưng kết quả tối hậu lại trái ngược.

Trong năm 589, triều đại nhà Tùy, được thành lập bởi một gia tộc Trung Hoa hợp chủng với các gia tộc cầm quyền người Thát Đát của đế quốc phương bắc trước đây, đã tái thống nhất Trung Hoa bằng một cuộc chinh phục dễ dàng và mau chóng triều đại nhà Ch’en (Trần) suy yếu ở miền nam.  Nhưng trong khi chiếm cứ các lãnh địa của họ và các sự tuyên nhận mong manh về quyền chủ tể tại miền tây nam, nhà Tùy sẽ nhận ra rằng hình trạng trong miền đã thay đổi lón lao.  Phần lớn Quý Châu và hầu hết Vân Nam giờ đã được tổ chức thành một số vương quốc có thể triệu tập các đội quân đáng kể.  Họ không còn là các bộ lạc man rợ bị chia cắt thành các đơn vị lãnh thổ nhỏ của một thung lũng hay đồng bằng duy nhất.  Chính bản thân nhà Tùy đã sớm bị nhận chìm vào các sự khó khăn tiếp theo sau các cuộc chiến tranh không thành công của nó với Hàn Quốc (Bắc Hàn, vương quốc Koryugo), và Trung Hoa một lần nữa rơi vào sự hỗn loạn.  Màn xen giữa này thì ngắn ngủi: trong năm 618 triều đại nhà Đường, kẻ chiến thắng trong cuộc nội chiến phức tạp, đã xuất hiện để thống nhất Trung Hoa trên một căn bản lâu dài.  Không bao lâu, nó phô diễn để sức mạnh của mình được cảm thấy ở miền viễn nam.  Nhà Đường chấp nhận chính sách cổ truyền và đã được thử thách mà đế quốc nhà Hán đã theo đuổi.  Các tù trưởng bộ tộc và các nhà vua được mời gọi để thừa nhận quyền chủ tể của Trung Hoa, đổi lại nhận được sự xác định thẩm quyền và các tước phong vinh dự.  Hệ thống này có vẻ như vận hành khá tốt trong nhiều năm, và có thể không có gì phải nghi ngờ rằng sự phổ biến văn hóa và phong tục Trung Hoa đã được khích lệ.  Tuy nhiên, các thẩm quyền nhà Đường đã không thỏa mãn với sự phân chia miền thành quá nhiều vương quốc tương đối nhỏ bé, nhận thấy tình trạng này phức tạp và khó quản trị.  Họ nghĩ đến ý tưởng rằng bằng việc thống nhất nhiều vương quốc nhỏ hơn dưới một nhà cai trị, toàn thể sự quản trị chính trị vùng ven biên đế quốc sẽ được dễ dàng hơn.  Việc này, từ quan điểm của họ, là một sai la6`m quan trọng.  Nó đã giúp cho sự trổi dậy của vương quốc Nam Chiếu trở nên đáng sợ và hoàn toàn độc lập cũng như đối nghịch với đế quốc nhà Đường.

Nam Chiếu đã là một trong sáu vương quốc, Sáu Chiếu (Six Chaos) (từ ngừ trong tiếng Thái chỉ nhà vua) đã chia cắt miền tây và trung Vân Nam.  Nam Chiếu được gọi tên như thế bởi vì bộ chỉ huy nguyên thủy của vị lãnh chúa được đặt tại Menghua, phía nam Đại Lý, sau này trở thành kinh đô của họ, và cũng bởi năm Chiếu kia hoặc là ở phía tây hay phía bắc của Menghua.  Nam Chiếu chình vì thế nguyên thủy là Chiếu Phương Nam (Nan).  Sự lựa chọn Đại Lý làm kinh đô là khôn ngoan, bởi đó là một trong các địa điểm được phòng vệ lý tưởng nhất có thể tưởng tượng được.  Tại sao nó chưa hề, như nó sắp, được nhận thức trong thời nhà Hán thì không rõ, bởi vị trí của nó mời gọi sự thiết lập ít nhất một quyền lực địa phương.  Đồng bằng trên đó thành phố tọa lạc có chiều dài khoảng ba mươi dặm, giáp ranh về phía đông với hồ Erh Hai (Nhĩ Hải?) rộng lớn, có nơi rộng tới năm dặm, và phía tây bởi rặng núi Ts’ang Shan cao sừng sững, một rào cảo vươn cao tới 14,000 bộ Anh, hay 7,000 bộ Anh cao hơn đồng bằng Đại Lý.  Đồng bằng đó ở cả hai đầu được khép kín bằng các ngọn đèo hẹp nằm giữa hồ nước, các con sông dẫn và thoát nước của nó, và rặng núi Ts’ang Shan.  Đèo phía bắc được gọi là Lung T’ou Kuan (Long Đầu Quan), Đèo Đầu Con Rồng, hay theo cách nói thông thường là Shangkuan (Thượng Quan), Đèo Trên; phía dưới, được phòng vệ bởi thành của Hsiaquan (Hạ Quan), Đèo Dưới, là Lung Wei Kuan (Long Vĩ Quan), Đèo Đuôi Rồng.  Con Rồng là hồ Nhĩ Hải (Erh Hai: Nhĩ Hải, theo hình dạng [như lỗ tai, ND] của nó).  Hai ngọn đèo, ngay dù chúng không được củng cố về phòng thủ, sẽ là các vị thế lý tưởng để phòng vệ đồng bằng và ngăn chặn một lực lượng hùng mạnh hơn nhiều.  Chúng đã được củng cố bởi thành phố có tường thành vững chức bao quanh ở Hạ Quan,  trên cửa vào phía nam ngăn chặn con đương đến Côn Minh ở hướng đông, và đèo hẹp theo đó con đường đi qua hướng tây dẫn đến Yungch’ang và giao điểm với sông Cửu Long.  Chính vì thế, nó là giao lộ chiến lược của miền tây Vân Nam, và mặc dù có thể đi vòng quanh đồng bằng Đại Lý và du hành lên phương bắc, con đường này khó khăn hơn nhiều.  (Dù thế, nó đã là con đường đi bởi Cộng sản trong cuộc Trường Chinh năm 1935, bởi họ không thể chọc thủng lối vào đồng bằng Đại Lý được).  Lối vào phương bắc vào đồng bằng Đại Lý được kiểm soát bởi thành tại Thượng Quan, nơi mà một khe nước sâu từ rặng Ts’ang Shan xuống hồ ở cửa sông Nhĩ Hải, đổ nước vào hồ.  Tòa thành được xây dựng bắc ngang lối đi duy nhất giữa khe nước và hồ.

Đồng bằng Đại Lý là vùng đất trồng lúa gạo phì nhiêu, không bao giờ bị nguy ngập vì lũ lụt, và không bao giờ bị nguy hiểm vì hạn hán, bởi các luồng nước không dứt chảy xuống từ rặng núi Ts’ang Shan vĩ đại (đỉnh núi co tuyết phủ vào khoảng năm tháng) khiến cho việc dẫn nước thường trực trở nên khả dĩ.  Nó có khả năng sản xuất các khối lượng ngũ cốc lớn, và vụ thu hoạch gạo mùa hè được thay thế bằng đậu và rau trong mùa đông.  Ở trên cao, 7,000 bộ Anh, nhưng thuộc vĩ tuyến nhiệt đới, Đại Lý có một khí hậu gần như lý tưởng với mùa thu và mua đông dài và khô, và một mùa hè ngắn, ẩm ướt nhưng tương đối lạnh, khi gió mùa tây nam mang mưa nhiều đến hàng rào núi.  Không rõ rằng bộ tộc hay nhóm nào bị dời cư hay chinh phục bởi các nhà lãnh đạo Nam Chiếu khi họ di chuyển theo hướng bắc để chiếm giữ Đại Lý.  Các cư dân ngày nay, và chắc chắn trong nhiều thế kỷ đã qua, không phải sắc dân T’ai thuần chủng, mà được biết là dân Pai (trong Hán tự được dịch nghĩa đơn giản là “Bạch: Trắng”).   Trong tiếng Pai là Ber Wa Tze, có nghĩa “dân của Bạch Vương: White King”.  Ai có thể đã là vị vua thần thoại này thì không được ghi chép, nhưng một ngôi mộ cổ xưa và to lớn, bị xâm phạm từ lâu, trên sườn rặng Ts’ang Shan gần thành phố Đại Lý được tôn thờ ở địa phương như ngôi mộ của Bạch Vương.  Nó có vẻ như một ngôi mộ của một trong các vị vua của Nam Chiếu thì đúng hơn, và Bạch Vương thần thoại có lẽ là sự ghi nhớ của dân gian về một trong các vị vua chiến sĩ của Nam Chiếu.  Có vẻ khá rõ ràng rằng các nhà lãnh đạo của Nam Chiếu, và có lẽ các môn đệ của họ, là người T’ai, nhưng còn nhiều ngờ vực rằng liệu sắc dân Bạch theo các phong tục và ngôn ngữ còn sống sót của họ lại có thể được xếp loại như dân T’ai hay không.

Vân Nam ngày nay, giống như trong quá khứ, là một mảnh chắp vá phức tạp của những người mà giờ đây được gọi là “các dân tộc ít người” – hay các bộ tộc trước đây – thuộc nhiều trình độ văn hóa khác nhau.  Dân Bạch trong bản chất là một sắc dân trồng lúa gạo; họ cư ngụ không chỉ ở đồng bằng Đại Lý mà còn ở cả các thung lũng phía bắc xa mãi đến tại vung sông Dương Tử trên cao, nhưng Đại Lý là trung tâm thực sự của họ.  Ở phía nam, chỉ quá Hạ Quan vài dặm, các sắc dân khác chiếm cư đất đai.  Bởi thế vương quốc Nam Chiếu không bao lâu đã sáp nhập toàn thể Vân Nam và vượt ra ngoài biên giới của tỉnh hạt hiện tại không thể được mô tả như một vương quốc dân Thái (T’ai), trong ý nghĩa rằng vương quốc sau này tại chính nước Thái Lan, và tại Lào là Thái trong thành phần chủng tộc của dân số của họ.  Nam Chiếu là một vương quốc được cai trị bởi một gia tộc có gốc người Thái, được hỗ trợ, có lẽ, bởi một tầng lớp cai trị thuộc cùng giống dân, nhưng cai quản một loạt nhiều sắc dân khác biệt kể cả, khi họ tăng trưởng mạnh hơn, nhiều quận huyện trong đó khu định cư Trung Hoa đã bám rễ.  Tính chất này phân biệt Nam Chiếu một cách rất khác biệt với Việt Nam ở phương nam.  Tại Việt Nam, người Trung Hoa đã cai trị một dân tộc duy nhất, được cư trú ven biên, thực sự, bởi các bộ tộc miền núi, những các bộ tộc này là ngoại vi và khó được mang đặt dưới sự quản trị trực tiếp.  Khi Việt Nam vứt bỏ ách cai trị của Trung Hoa, người Việt trở thành chủng tộc chế ngự và cai trị các bộ lạc như các chư hầu thụ phong.

Tuy nhiên, tại Nam Chiếu đã không có sắc dân chế ngự được trải rộng hay thu gọn.  Sắc dân Bạch tại Đại Lý ngay khi đó có thể đông đảo, nhưng khu vực của họ bị giới hạn và chỉ tạo thành một phần nhỏ của Vân Nam.  Người Miao (Mèo) thì rải rác dọc theo nhiều rặng núi; người Na Khi được tìm thấy quanh sông Lichiang (Li Giang) ở phía bắc, nhưng không ở nơi nào khác, và cứ thế danh sách có thể được tiếp tục; nhiều dân tộc nhỏ hơn hay lớn hơn chiếm cứ các thung lũng và đông bằng cạnh hồ nước phì nhiêu tách biệt, bị phân cách xa nnhau bởi các rặng núi hoang dại được cư trú, nếu có, bởi các bộ tộc kém tiến bộ chẳng hạn như sắc dân Liu.  Sự phân tán này đã là một trợ lực cho sự thành lập một chế độ quân chủ được đặt nền móng vững chắc tại một địa điểm chiến lược, nhưng lại là một trở ngại chí tử cho sự tiến hóa của một dân tộc  Nó chính là cá tính dân tộc của giống dân Việt cổ của Việt nam mà ngay dù cả một nghìn năm dưới sự cai trị trực tiếp của Trung Hoa đã không thể phá vỡ được; chính sự thiếu vắng bất kỳ cá tính dân tộc nào như thế tại Vân Nam đã giúp cho sự sống sót tối hậu của một vương quốc tranh đấu và mạnh mẽ như Nam Chiếu, vốn đã tồn tại trong sáu trăm năm, là điều bất khả thi khi đối diện với sự cố kết và sức mạnh của Trung Hoa.  Người Việt Nam, ngay khi độc lập, tiếp tục nằm dưới ảnh hưởng văn hóa Trung Hoa mạnh mẽ, nhưng từ chối không chấp nhận sự kiểm soát chính trị.  Các dân tộc của Vân Nam không bị ảnh hưởng sâu như thế bởi văn minh Trung Hoa, và vẫn có một số bộ phận chưa bị đụng chạm bởi nó, nhưng họ đã không thể duy trì được nền độc lập và kết thúc với việc bị sáp nhập toàn bộ vào đế quốc Trung Hoa.

Thật là một sự mỉa mai của lịch sử rằng Nam Chiếu, nước sẽ là,  trong một thời gian lâu dài,.trở ngại chính yếu cho sự nới rộng thẩm quyền và ảnh hưởng của Trung Hoa tại phương nam, lại đã được hỗ trợ bởi chính đế quốc Trung Hoa.  Vương quốc được cổ vũ trong những năm ban sơ của triều đại nhà Đường để hợp nhất Sáu Chiếu  trước đây và thiết lập kinh đô của nó tại Đại Lý (năm 629) vẫn còn được nhìn như kẻ thừa kế các quốc gia bé nhỏ vốn nhận được sự bảo trợ của nhà Hán bốn trăm năm trước.  Nam Chiếu có vẻ ban đầu chấp nhận vai trò này.  Năm 647, nó thừa nhận quyền chủ tể của Trung Hoa, và vương quốc được trình bày chính thức như “Khu Hạt hay Quận Huyện Minh: Department of Ming” nằm trong tỉnh miền nam to rộng mới lập là Chien nan.  Nhà Đường đã bãi bỏ hệ thống Đô Hộ Phủ nhà Hán cổ bằng một hệ thống mới, trong đó các hình thức quan trọng của nó vẫn còn tồn tại đến ngày nay, là Tao [Đạo?] (sau này là sheng [?]), tức các tỉnh có diện tích lớn.  Chien Nan là tỉnh thuộc miền tây và tây nam, bao gồm tất cả phía tây của Tứ Xuyên nằm ở phía nam biên giới ngày nay với tỉnh Cam Túc, và các phần của Vân Nam và Quý Châu như nhà Đường tuyên nhận hay quản trị.  Các quan hệ giữa nhà vua Nam Chiếu và các vị hoàng đế ban đầu của nhà Đường thì tốt đẹp.  Các sứ giả đi và đến, và các hoàng tử con các nhà vua đến Tràng An (Ch’angan) để thăm viếng hay học tập.  Điều cần phải ghi nhớ rằng vào thời điểm này, đế quốc nhà Đường đang ở chính tột đỉnh quyền lực của nó.  Hoàng đế Thái Tông vĩ đại, người thành lập triều đại thực sự, đã không chết cho đến năm 649 và thời gian trị vì lâu dài của người thực sự thừa kế của ông, Hoàng Hậu họ Võ [Tắc Thiên, ND], hay sự chế ngự của bà trong chính quyền, kéo dài trong nửa thế kỷ cho đến năm 705, đà bảo đảm cho trật tự và quyền lực liên tục.  Thời đại của người cháu trai của bà, Huuan Tsung (Huyền Tông) (hay [Đường] Minh Hoàng (Ming Huang), vị “Hoàng Đế Chói Sáng”) nổi tiếng nhất với hồi kết cuộc bi thảm, trong sự xáo trộn của cuộc nổi dậy của An Lộc Son (An Lu-shan) (755),  nhưng chính trong gần nửa thế kỷ đó một thời đại vinh quang trong đó văn minh Trung Hoa sáng chói với một sự huy hoàng chưa hề sánh được.

Đây không phải là các tình huống dưới đó một quốc gia phương nam tương đối nhỏ bé lại đi thách đố một cách khôn ngoan quyền chủ tể của Trung Hoa.  Nhà vua P’i-lo-ko của Nam Chiếu là một nhà lãnh đạo có khả năng.  Ông ta đã sử dụng liên minh và quyền chủ tể của nhà Đường để củng cố quyền lực của mình tại miền tây Vân Nam, và điềù này chấp nhận được đối với các vị tổng đốc tỉnh Chien Nan nhà Đường là những kẻ không muốn thấy các sự rắc rối ở biên giới.  Ông đã mời năm thủ lĩnh cạnh tranh của ông, các ông hoàng tại Menghua, Paoshan, Chiench’uan, Mitu và Tengch’uan, tất cả đều là các thành phố thuộc miền tây Vân Nam, đến dự buổi tiệc tại kinh đô mới của ông, Đại Lý.  Bữa tiệc này được tổ chức tại một ngôi chùa, hay một kiến trúc hai tầng, và khi đám tiệc đã ăn uống đầy đủ và phần nào say rượu, Nhà Vua rút lui, để các khách của ông ở lại.  Tầng dưới tòa nhà vốn đã chất đầy cỏ và rơm, khi đó được châm lửa, tất cả các ông hoàng đều bị chết cháy.  Một thần thoại Đại Lý kể rằng ông Hoàng của Tengch’uan có nghi ngờ về lời mời này, nhưng sau cùng có đến dự buổi họp mặt, mang theo một vòng đeo tay bằng sắt trao cho ông bởi người vợ, có lẽ như một loại bùa chú.  Sau bi kịch, các bà vợ của các ông hoàng bị chết đên để nhận xác về chôn cất.  Chỉ có bà Hoàng của Tengch’uan là có thể nhận ra thi thể cháy thành than của chồng bà nhờ vòng tay bằng sắt mà ông vẫn đeo.  Người Đại Lý đã mở một lễ hội về biến cố bi thảm này.  Một ngôi đền thờ nhỏ đánh dấu địa điểm ngôi chùa làm chết người, và vào ngày 24 của tháng Sáu (khoảng 30 Tháng Bảy [Dương Lịch] các phụ nữ của Đại Lý đã nhuộm đỏ móng tay của họ để tưởng nhớ sự kiện rằng bà Hoàng xứ Tengch’uan bị phỏng ngón tay khi thu hôi lại chiếc vòng bằng sắt.  Có các buổi lễ khác kể cả việc đốt một đống cỏ rơm lớn, để tượng trưng cho ngôi chùa, và một vở kịch được trình diễn có vẻ là nguyên bản địa phương thuần túy dựa trên câu chuyện về sự tàn sát.  Một cách kỳ lạ buổi lễ này và các dị đoan liên hệ của nó là một trong số rất ít điều theo đó người dân Đại Lý hiện nay nhắc nhở về lịch sử của họ trong thời Nam Chiếu, mặc dù điều có thể hiểu rõ rằng Nhà Vua P’i-lo-ko khó lấy làm thật hài lòng để thấy chiến công đặc biệt này được vĩnh cửu hóa trong trí nhớ dân gian.

Năm 738, ông mở rộng vương quốc của mình bằng cách giảm bớt các bộ tộc ở phương bắc, các người Tây Tạng (T’ufan) và Lolo (hay Nosu) là các kẻ trú ngụ tại thung lũng sông Dương Tử trên cao và các quận huyện lân cận.  Các bộ tộc này đã từng là mối phiền nhiễu đối với Triều Đình nhà Đường, hay đột kích biên giới; hành động của P’i-lo-ko được đón nhận, và ông ta đã được tưởng thưởng với các tước phong mới, kể cả tước “Vân Nam Vương” – một trong các sự sử dụng sớm nhất của danh hiệu ngày nay cho một vùng rộng lớn của tỉnh.  Trong thời nhà Hán, nó chỉ được áp dụng cho huyện Côn Minh.  Năm 742 cháu nội nhà vua Nam Chiếu đi đến kinh đô Trung Hoa, Tràng An, đã được tiếp kiến và kết hôn với một công chúa đế triều.  Cuộc thăm viếng của Hoàng Tử Feng-chia-yi tượng trưng cho cao điểm của các quan hệ thân thiện giữa nhà Đường và Nam Chiếu; không bao lâu một sự thay đổi chí tử đã làm biến đổi tình thân thiện trước đây thành một sự thù hận lâu dài.  Hoàng Đế Hsuan Tsung trở nên già lão; lịch sử thời trị vì của ông xác nhận việc ông mất sự phán đoán và kiểm soát trong các năm tháng này – thường và ưa bị gán cho ảnh hưởng của nàng hầu sủng ái của ông, Dương Quý Phi, một trong những mỹ nhân nổi tiếng nhất trong lịch sử Trung Hoa.  Có lẽ đáng kể hơn là ảnh hưởng và quyền lực lớn lao của người anh của bà ta, Yang Kuo-cheng, đại thần đầu triều và các thái giám trong Triều.  Nhà Vua P’i-ko-lo được thừa kế bởi con trai, Ko-lo-feng.  Những tên họ này y như người Trung Hoa đã ghi chúng, và không phải Hán tự trong sự cấu tạo, nhưng tượng trưng một cách rõ ràng các từ ba vần (ba âm tiết) trong ngôn ngữ T’ai.  Hình thức Hán tự bên ngoài của chúng không có nghĩa rằng tiến trình Hán hóa chưa đạt đến giai đoạn khi mà danh tính Trung Hoa thay thế cho từ ngữ bản xứ.  Tiếng Trung Hoa chỉ có thể (hay ở thời điểm đó chỉ có thể) được viết bằng thứ chữ biểu ý Trung Hoa, và điều cần làm phải lựa chọn từ ngữ có âm tương tự với âm của các từ ngữ ngoại quốc được ký âm.  Cách phát âm Hán tự thời nhà Đường giống với tiếng Quảng Đông hiện đại hơn là tiếng Quan Thoại (Mandarin) hiện đại và âm của các danh tính Nam Chiếu này phần lớn không giống với âm tương đương hiện đại.

Trong năm 750, Nhà Vua Ko-lo-feng du hành ngang qua Vân Nam để đến thăm viếng vị phó vương kinh lược Trung Hoa của tỉnh Chien nan, chắc chắn để tiếp nhận sự xác nhận việc thừa kế ngôi vua của ông.  Trên đường trở về, ông bị quấy rầy bởi các đòi hỏi tống tiền bởi một quan chức Trung Hoa địa phương, và khi ông khiếu nại lên Tràng An, các sự trần tình của không được đếm xi/a tới.  Ông lập lại lời khiếu nại, phái một sứ bộ quan trọng hơn để mang theo các sự phàn nàn của ông.  Một lần nữa, chúng không được ngó ngàng tới, như được nói rằng vì các lời khiếu nại không bao giờ được tấu trình lên vị hoàng đế già cả bởi các thái giám quá e ngại cho chính họ, một khi các vụ tiống tiền có nguy cơ bị phát giác.  Nhà Vua Ko-lo-feng sau đó đã dựng lên một đội quân và tấn công các quận huyện do nhà Đường cai trị lân cận tại miền đông Vân Nam và miền tây Quý Châu (nơi mà sự cai trị của nhà Đường chỉ có trên danh nghĩa).  Các quan chức cấp tỉnh nhà Đường khi đó đã lập ra một đôi quân 80,000 người để trấn áp kẻ “nổi loạn”. Ko=lo-feng, kinh hoảng trước các hậu quả này, lại gửi các sứ bộ đến Tràng An, nhưng mục đích của chúng, là để xin lỗi và giải thích, không bao giờ được phép đến được sự hay biết của Hoàng Đế.  Đội quân Trung Hoa đi tới vùng phụ cận của Hạ Quan, cửa ngõ phía nam tiến vào đồng bằng Đại Lý.  Ở đó nó đã đụng độ và bị đánh bại bởi các lực lượng của Nam Chiếu (năm 751).  Điều được tường thuật là 60,000 binh sĩ nhà Đường bị hạ sát, bao vây và chiến đấu đến chết.  Một gò đất lớn vẫn còn được chỉ cho các khách lữ hành như để đánh dấu ngôi mộ tập thể của họ.  Trận đánh hãy còn được ghi nhớ bởi người dân Đại Lý và trong quận.  Một đền thờ nhỏ được dựng trên sườn núi, bên trên gò mộ các binh sĩ nhà Đường, và được dành để thờ Li Ming, vị tướng nhà Đường đã hy sinh tính mạng trong đại họa này.  Bức tượng của ông đặt trên bàn thờ, và trong năm 1938, khi tin tức sau cùng đã tới được Đại Lý rằng Nam Kinh đã thất thủ trước quân xâm lăng Nhật Bản, điều được loan báo rằng cánh tay phải của Tướng Quân Li Ming bắt đầu rỉ máu.  Khách hành hương từ các nơi xa xôi bị thu hút đến xem điều kỳ diệu, thường được giải thích như một điềm rất xấu.

Người Trung Hoa không chấp nhận trận đánh ở Hạ Quan là chung cuộc; trong năm 754 một đội quân khổng lồ khác đã được lâp lên, lần này toan tính xâm lăng vùng Đại Lí từ hướng đông bắc, nhưng nó cũng đụng độ và bị đuổi chạy tại thung lũng Tengch’uan, một trong những con sông chảy theo hướng nam đổ vào hồ Đại Lý.  Sự thất trận bị che dấu đối với hoàng đế, kẻ trong thực tế bị đánh lừa để tin tưởng rằng đã có một sự chiến thắng.  Trong bất kỳ trường hợp nào, Hoàng Đế Hsuan Tsung sớm có nhiều lo âu thúc bách hơn là việc không có sự thành công tại một biên giới xa xôi.  Cuộc nổi loạn lớn lao của An Lộc Sơn đã bùng nổ trong năm 755 và trong mười năm, sau khi đã chiếm giữ chính kinh đô và đánh đuổi vị hoàng đế già nua phải chạy trốn về Tứ Xuyên, đã tàn phá khắp miền bắc Trung Hoa.  Khi sau cùng nó đã được trấn áp, Hoàng Đế Huyền Tông đã thoái vị, và người thừa kế ông, khôi phục một cách đau khổ thẩm quyền tại miền bắc, và rằng một cách bất tòan, đã không có đủ tài nguyên đề dành cho các cuộc chiến tranh tại miền tây nam xa xôi.  Nam Chiếu đã lợi dụng bởi cuộc nổi loạn để củng cố chiến thắng của nó.  Liên minh với người Tây Tạng, nó đã thực hiện các cuộc đột kích và đột nhập vào lãnh thổ nhà Đường đã mở rộng một cách rộng lớn lãnh địa của Nam Chiếu.  Ở phía tây, Ko-lo-feng, giờ đây nhận thức rằng sự cãi cọ của ông với nhà Đường khó có thể kết thúc mau lẹ, đã hướng sự chú ý của ông vào việc khai mở con đường khác để tiếp xúc với thế giới bên ngoài vương quốc của ông.  Trong các năm từ 757 đến 763, ông đã xâm lăng Miến Điện và chinh phục các vùng đất phì nhiêu của thung lũng miền thượng lưu sông Irrawaddy.  Cuộc chinh phục này có ảnh hưởng đến việc tan rã của vương quốc ban sơ Pyu, tại miền Hạ Miến, và sau hết, đã giúp cho các cuộc đột nhập của người Miến Điện trở nên khả thi, và, xem ra, cho sự tiêu diệt phần nào toàn bộ các cư dân nguyên thủy thuộc chủng tộc Mon.

Nam Chiếu giờ đây là một quyền lực phải được ước tính tới, và bởi triều đại nhà Đừng không bao giờ hồi phục hoàn tòan từ các ảnh hưởng của cuộc nổi loạn của An Lộc Sơn, nó không bao giờ có thể nghĩ đến sự tái chinh phục Vân Nam.  Ngược lại, vương quốc Nam Chiếu tiếp tục các cuộc xâm lấn của nó vào đế quốc suy yếu trong nguyên một thế kỷ, chỉ với các khoảng cách hòa bình ngắn ngủi.  Trong những năm tiếp theo sau sự kết thúc cuộc nổi loạn của An Lộc Sơn (763), các đội quân của Nam Chiếu nhiều lần xâm nhập Tứ Xuyên trong sự liên minh vơi người Tây Tạng là những kẻ khi đó là một dân tộc tích cực và tạo bạo thường xuyên đột kích biên giới Trung Hoa và còn xâm nhập sâu vào các tỉnh.  Phần lớn miền nam Tứ Xuyên bị sáp nhập vào vương quốc Nam Chiếu trong các năm này.  Hòa bình được thiết lập trong một lúc năm 793, khi Nam Chiếu thừa nhận quyền chủ tể của Trung Hoa, đã gửi cống phẩm tượng trưng, nhưng giữ lại nền độc lập thực sự của nó.  Các sự thất bại gần đó trong các chiến dịch tại Tứ Xuyên có thể đã xui khiến nhà vua Nam Chiếu thực hiện cử chỉ này, nhưng cũng là bởi sự kiện rằng cách thức Trung Hoa vào thời đại đó (và của nhiều thời kỳ sau này) đã không nhìn nhận bất kỳ mối quan hệ nào giữa Trung Hoa với một vương quốc láng giềng khác hơn mối quan hệ của quy chế chủ tể - triều cống.  Cống phẩm có thể nhỏ, hay kém trị giá hơn nhiều các tặng phẩm mà hoàng đế Trung Hoa ban tặng để bồi đáp, nhưng sự thừa nhận quyền chủ tể là thiết yêu.

Sau một thế hệ hòa bình tương đối, Nam Chiếu đã tái lập chính sách hiếu chiến của nó vào năm 829 với một cuộc xâm lăng vào Tứ Xuyên, thực sự đã diễn ra tại tỉnh lỵ của nó, Thành Đô (Ch’engtu), và đã vươn tới các phần phía bắc của tỉnh này.  Dĩ nhiên, Tứ Xuyên cho đến giờ là cuộc chinh phục đáng mong ước nhất trong phạm vi quyền lực của Nam Chiếu.  Nó là một tỉnh với sự phong phú vô cùng lớn lao, một cánh đông lúa mênh mông, và các khu định cư rất gần cận.  Cuộc chinh phục vĩnh viễn Tứ Xuyên sẽ tạo ra một quyền lực mới vĩ đại tại tây nam, có thể không bao giờ lại phải chịu thần phục trước các triều đại thống trị ở bắc Trung Hoa.  Giao tranh ít nhiều liên tục diễn ra để quyết định số phận của tỉnh này mãi cho đến năm 873 khi một cuộc xâm lăng lớn lao của Nam Chiếu bị đánh bại và đẩy lui ra khỏi tỉnh sau khi mở cuộc bao vây Thành Đô và các thành phố quan trọng khác.  Cùng lúc, và để đánh vào cạnh sườn các sự phòng thủ của Tứ Xuyên, Nam Chiếu đã nhiều lần tấn công các phần do Trung Hoa chiếm giữ tại miền đông Quý Châu và miền tây Hồ Nam, chiếm cứ và sáp nhập nhiều huyện nằm trong phạm vi vương quốc.  Trung Hoa khi đó cai trị phần giờ đây là Bắc Việt Nam, châu thổ sông Hồng, và tỉnh này cũng bị xâm lăng bởi Nam Chiếu ba lần, giữa các năm 861 và 866, chỉ có cuộc xâm lăng cuối là đã bị đánh bại một cách rõ rệt.  Trong khi các cuộc xâm lăng phương nam này đang tiến hành, các đội quân của Nam Chiếu đã xâm nhập vào miền tây tỉnh Quảng tây, để cắt đứt người Trung Hoa tại An Nam (Bắc Việt Nam) khỏi sự ttruyền thông trực tiếp với quê hương của họ.

Sự thất trận của cuộc xâm lăng lớn lao sau cùng vào Tứ Xuyên trong năm 879 và vào An nam ít năm trước đó đã đánh dấu sự suy giảm của chủ nghĩa quân phiệt xâm lấn của Nam Chiếu. Nó diễn ra đúng là quá sớm để đạt được một sự thành công kéo dài.  Từ năm 868 khi cuộc nổi loạn to lớn của Hoàng Sào (Huang Tsao) làm lung lay triều đại nhà Đường đang suy tàn và mở màn cho một thời kỳ ba mươi năm của sự hỗn loạn và nội chiến sâu xa, kết thúc trong sự sụp đổ của đế quốc trung ương tập quyền và của chính triều đại nhà Đường, một cơ hội được mang đến sẽ, sớm hơn một hay chưa đầy một thế kỷ, đưa đến một sự chinh phục của Nam Chiếu phần lớn miền nam Trung Hoa.  Cuộc nổi loạn và hậu quả của các cuộc nội chiến của nó giữa các vị tổng đốc bề ngoài trung thành, hay phản loạn, đối với một Triều Đình bất lực, đã là một sự khai thông sẽ có thể bị khai thác với sự chống đối tối thiểu.  Với sự sụp đổ của nhà Đường, miền nam Trung Hoa sắp bị chia cắt trong năm mươi năm thành một số quốc gia, tất cả đều tuyên nhận là “đế quốc”, nhưng trong thực tế, chỉ cai trị chỉ một và nhiều nhất hai tỉnh.  Song trong thời đại phân hóa và suy yếu này, Trung Hoa lại được miễn nhiễm khỏi các cuộc tấn công của Nam Chiếu nhiều hơn trước đó.  Điều được nhận thấy rằng trong thời kỳ này Việt Nam đã vứt bỏ ách thống trị của Trung Hoa, vốn đã sẵn bị suy yếu nghiêm trọng bởi cuộc nổi loạn của đôi quân Trung Hoa tại biên giới Nam Chiếu – An Nam, một cuộc nổi loạn đã mở màn cho cuộc nổi lọan to lớn của Hiòang Sào.  Nhưng Nam Chiếu không lợi dụng ưu thế để đẩy mạnh các sự tuyên xác của nó tại nước Việt Nam giờ đây độc lập, hay không quấy phá các nhà vua địa phương nổi dậy tại miền nam Trung Hoa sau khi có sự sụp đổ của nhà Đường.

Trong những năm tại họa cuối cùng của nhà Đường, đã có hòa bình giữa vương quốc và đế quốc đang suy sụp.  Một công chúa Trung Hoa được tìm kiếm và kết hôn với Nhà Vua ngay đến tận năm 881 và trong năm 924, Nam Chiếu đã tìm cách liên minh và tình hữu nghị với vương quốc thừa kế của nhà Nam Hán, được thiết lập tại Quảng Châu.  Có vẻ vì đã quyết đoán vào cuối thế kỷ thứ chin rằng Trung Hoa thì quá hùng mạnh khiến cho một cuộc chinh phục vĩnh viễn vào Tứ Xuyên thành một dự án  [bất ?] khả thi, trong thế kỷ thứ mười Nam Chiếu hài lòng để ngắm nhìn sự tan vỡ của đế quốc nhà Đường trong sự bảo đảm rằng sự đe dọa khác nữa cho nền độc lập của nó không thể phát sinh từ Trung Hoa khi mà tình trạng này tồn tục.  Các khó khăn nội bộ cũng quấy rầy chính Nam Chiếu, và các việc này xem ra có căn nguyên từ các sự bất đồng giữa dân số Trung Hoa đông đảo bị chinh phục , hay các dân số hòa nhập trọn vẹn hơn vào văn hóa Tru ng Hoa, với các phần tử phi Trung Hoa nhiều dân tộc tính hơn, tại các phần miền tây trước đây của vương quốc.  Sự chiếm giữ hơn nữa các miền hay quận Trung Hoa vào một thời điểm như thế chỉ làm gia tăng các khó khăn này, và nhận định này có thể đã đóng một vai trò quan trọng trong thái độ hòa bình hơn mà Nam Chiếu giờ đây khoác lên mình.

Điều chưa rõ rệt, hay nó sẽ còn là như thế trong rất nhiều năm, rằng giới hạn đặt trên sự bành trướng của Nam Chiếu sau chót dẫn tới sự thu nhỏ và chung cuộc đến sự loại trừ nền độc lập.  Không giống như Việt Nam, nước đã có thể và đã bành trướng vào miền nam gần như trống không của xứ sở hiện đại, sau khi đã khắc phục nước Chàm tương đối yếu, Nam Chiếu chỉ có thể bành trướng với sự tổn thất của Trung Hoa.  Sự chinh phục vùng Thượng Miến thì khó khăn để duy trì; khí hậu bất lợi cho một đội quân Vân Nam, và các sự truyền thông giữa cao nguyên và thung lũng sông Irrawaddy là một trong các công việc tồi tệ nhất trên thế giới.  Để dành được sức mạnh thực sự vượt quá các đồng bằng lúa gạo chật hẹp và các thung lũng của Vân Nam, phân cách như chúng bị phân cách bởi các dải núi non trống không to lớn, Nam Chiếu phải chiếm đóng thường trực và khi đó phải thực dân hóa và đồng hóa trọn vẹn một khu vực thực sự giàu có với dân số đông đảo.  Các miền Tứ Xuyên và Hồ Nam đều như thế, nhưng tỉnh kể trước thì gần cận với sức mạnh chủ yếu của bất kỳ quyền lực nào cai trị miền bắc Trung Hoa, và miền kể sau bị ngăn cách với Vân Nam bởi tỉnh Quý Châu nhiều núi đồi và nghèo kém.  Khi nhìn các khó khăn sẽ phải khắc phục trong các chiến dịch được thực hiện bởi Nam Chiếu chống lại nhà Đường, sự thành công của họ là điều đáng ngạc nhiên, và sự thất bại sau chót để củng cố nó là điều được ước định.  Nam Chiếu, ở thời đại đó, đối diện với một đế quốc Trung Hoa tan rã, đế quốc mà sự phân ly có thể tồn tục trong nhiều năm, hãy còn được chứng minh là chung quyết – không ai có thể nói gì được – có thể tin tưởng rằng nó được miễn nhiễm và có thể trở nên được thiết lập một cách vững chắc trong miền mà nó đã sáp nhập trọn vẹn.

Khu vực của vương quốc trong thực tế thì rộng lớn vào lúc có sự kết thúc các cuộc chiến tranh với nhà Đường.  Nó bao gồm tất cả vùng Vân Nam, một phần vùng Thượng Miến, phần tỉnh Tứ Xuyên nằm phía nam sông Dương Tử, nửa phần phía tây của Quý Châu, một phần nhỏ phía tây tỉnh Hồ Nam, và một số các huyện biên giới của phần giờ đây là tỉnh Quảng tây.  Một vương quốc rộng lớn, nhưng vẫn mới chỉ có kích thước bằng của một trong mười tỉnh Trung Hoa to lớn trên đó nhà Đường đã tổ chức thành đế quốc của họ.  Hơn nữa, phần lớn lãnh thổ này hoặc không có người ở hay là nơi cư ngụ của các bộ tộc chậm tiến bộ hơn nhóm dân Nam Chiếu thống trị hay các người định cư Trung Hoa mà họ đã chinh phục.  Năm mươi năm sau này, vào khoảng niên đại có sự thành lập của triều đại nhà Tống ở Trung Hoa, Nam Chiếu đã mất sự kiểm soát hữu hiệu trên các bộ tộc tại Quý Châu, và chính vì thế, đánh mất các huyện tại Hồ Nam; và hơn thế, đã từ bỏ miền nam Vân Nam cho các cư dân bộ tộc của nó và rời khỏi thung lũng sông Irrawaddy.  Các lãnh thổ này khi đó không quay trở lại về Trung Hoa; chúng chỉ đơn thuần rơi lại vào các sự phân chia nhiều bộ tộc mà Nhà Vua Ko-lo-feng và các kẻ thừa kế ông đã trấn áp một cách dữ dôi.

Lịch sử của Việt Nam và của Nam Chiếu chính vì thế trong một số đường hướng, chạy song hành với nhau, sau đó đã phân kỳ.  Cả hai đều mang nợ văn hóa đầu tiên của chúng nơi sự chinh phục của Triung Hoa; cả hai đều thành công trong việc trục xuất thẩm quyền Trung Hoa, trong khi giữ lại văn hóa; Nam Chiếu dành đạt được sự độc lập này hai thế kỷ trước khi Việt Nam làm được như thế.  Nhưng một khi thoát ra khỏi sự thống trị của Trung Hoa, người Việt Nam đã khởi sự cuộc “Nam Tiến” nhằm mở rộng xứ sở của họ trên căn bản tồn tục của sự định cư và di dân, ngay cả khi sự thống nhất về chính trị còn suy yếu.  Họ đã không tìm kiếm đất đai từ Trung Hoa; không lúc nào trong lịch sử mà một nhà cai trị Việt Nam lại tìm cách lợi dụng từ sự suy yếu diễn ra tại Trung Hoa để xâm lăng đế quốc.  Nam Chiếu đã làm đúng điều ngược lai.  Đã không có sự nam tiến, bởi không có vùng đất nhiều cám dỗ nhưng hầu như trống không để chiếm cứ.  Sự. bành trướng phải mở vào Trung Họa có nghĩa đối đầu với một quyền lực mà ngay khi đang suy giảm cũng vẫn còn rất đáng sợ, và một khi tái thống nhất sẽ không thể kháng cự được.  Nam Chiếu đã thiết lập một tiếng tăm chết người của việc trở thành một mối đe dọa tiềm ẩn cho sự thống nhất của đế quốc Trung Hoa; Việt Nam đã thiết lập một tiếng tăm vô hại của việc quan tâm đến sự bành trướng về phương nam, cách xa khỏi Trung Hoa, nhưng mang theo văn hóa Trung Hoa – và quyền chủ tể tượng trưng – cùng với nó.  Nam Chiếu có thể, và đã, chấp nhận văn hóa Trung Hoa gần như trọn vẹn như Việt Nam đương đại đã làm, nhưng nó đã không có cùng các hậu quả.  Tại Việt Nam, nó đã hành động như một lý do có giá trị cho chính sách bất can thiệp sau này của Trung Hoa vào quốc gia đó, bởi Việt Nam không thể bị nhìn như một kẻ thù của đế quốc.  Tại Nam Chiếu, vốn là một kẻ thù tích cực, văn hóa Trung Hoa cung cấp một lý do và một phương cách để khắc phục kẻ thù và sau hết sáp nhập vương quốc./-



TRUNG HOA THÔN TÍNH VÂN NAM

 Nguồn: C. P. FitzGerald, The Southern Expansion of the Chinese People, New York & Washington: Preager Publishers, 1972. (Chapter Four: The Chinese Conquest of Yunnan, các trang 60-78.)



Lời Người Dịch:

Dưới đây là bản dịch phần cuối trong tiến trình bành trướng và thôn tính của Trung Hoa trên đất liền, đặc biệt là ở Vân Nam, của cùng tác giả C. P. FitzGerald.  Chúng ta sẽ nhận thấy các nhân vật như Ngô Tam Quế, Lý Tự Thành, ẩn hiện bóng dáng mỹ nhân Trần Viên Viên mà tác giả Kim Dung đã hư cấu trong bộ truyện nổi tiếng của ông, Lộc Đỉnh Ký.  Chính Kim Dung sau này đã trích dẫn nhận định của tác giả C. P. FitzGerald nói rằng nếu nhà Minh không đổi kinh đô từ Nam Kinh lên Bắc Kinh thì Trung Hoa không bao giờ rơi vào tay người Mãn Thanh.

Nên nhớ những gì mà tác giả FitzGerald đã trình bày và tiên đoán là dựa vào tình hình của gần bốn mươi năm trước đây.  Người đọc sử ngày nay phải đưa vào bức tranh toàn diện các biến chuyển mà tác giả hẳn không ngờ xảy ra quá mau chóng tai vùng Đông Á trong mấy thập niên qua, như sự thống nhất của Việt Nam dưới chế độ cộng sản,  các cuộc chiến tranh giữa các nước cộng sản “anh em” tại Đông Dương, sự  tan rã của khối cộng sản thế giới, các nguyên do đưa tới sự sụp đổ của chủ nghĩa cộng sản, những gì còn sót lại của khôi cộng sản, chủ yếu tại vùng Đông Á, sẽ ra sao trong tương lai sắp tới, sự phát triển kinh tê, quân sự và hải lực của Trung Hoa, cùng lúc với các sự bất ổn về chủng tộc tại nội địa Trung Hoa, sự lụa chọn của Việt Nam …  Đó là những vấn đề rất quan trọng mà những người quan tâm đến lịch sử vùng Đông Á nói chung, và Việt Nam nói riêng cần phải nghiên cứu kỹ lưỡng để có được các chỉ dẫn hữu ích.

***

Quyền lực của Nam Chiếu bắt đầu suy giảm sau năm 877 vào chính lúc mà đối thủ vĩ đại của nó, triều đại nhà Đường, đang tiến vào thời xáo trộn và hỗn loạn chung cuộc của nó.  Nghịch lý này có thể được giải thích một phần do các hậu quả của các chiến thắng trước đó của các vị vua Nam Chiếu.  Các khu vực rộng lớn của vùng đất định cư của người Trung Hoa đã bị chiếm đoạt, và hàng nghìn người bị bắt giữ từ các vùng này và những vùng bị đột kích và tạm thời chiếm đóng đã được chuyên chở về nội địa Vân Nam.  Nam Chiếu chính vì thế đã vô tình tạo dựng bên trong biên cương của chính nó một loại “Đội Quân Thứ Năm” về văn hóa, một dân số gia tăng nói tiếng và theo văn hóa Trung Hoa, đa số có học thức, và chính vì thế đã được trang bị để đóng một vai trò ngày càng quan trọng trong chính quyền của đất nước nguyên đã trở thành xứ sở không chủ tâm của họ.  Động lực để phản kháng và tái nhập với đế quốc nhà Đường, hay hy vọng có sự can thiệp của nó, đã thực sự bị giải trừ bởi sự suy yếu và hỗn loạn đồng thời của chính đế quốc nhà Đường.  Trong một bàu không khí nơi mà học thuật Trung Hoa được ngưỡng mộ và theo đuổi, nơi mà một học vấn Trung Hoa là một tài sản xã hội quý giá, người gốc Trung Hoa bị bắt giữ hay chạy trốn có thể ước ao vươn lên nắm quyền lực và tạo ảnh hưởng chừng nào họ còn chứng tỏ lòng trung thành với vị vua xứ Nam Chiếu. Một khi đế quốc nhà Đường bị rơi vào nỗi thống khổ của các sự tranh dành giữa các vua chư hầu đối chọi nhau, những kẻ mà cơ hội dành được chiến thắng tối hậu xem ra mong manh, đối với nhà lãnh đạo ở Nam Chiếu, thật có ít lý do để trọng đãi bất kỳ ai trong họ hơn

 Bất kể sự thù hận lâu dài đối với đế quốc Trung Hoa, vương quốc Vân Nam tiếp tục ngưỡng mộ, chấp nhận, thích ứng và bắt chước nền văn minh của nhà Đường.  Bia ký chiến thắng của Nhà Vua Ko-lo-feng gần Đại Lý, hãuy còn tồn tại với tình trạng đọc được một phần, được viết bằng Hán tự cổ điển và soạn thảo bởi một học giả Trung Hoa.  Một ít thí dụ còn lại của kiến trúc Nam chiếu tại Đại Lý và các nơi khác, các ngôi chùa với kiểu dáng riêng biệt, và có niên đại từ đầu thế kỷ thứ tám, dù thế, là các biến thể của phong cách kiến trúc Trung Hoa vào thời kỳ đó, chứ không phải của Ấn Độ hay Miến Điện.  Nam Chiếu có một nghệ thuật mang những đặc tính khác biệt với nghệ thuật của Trung Hoa, và trong đó ảnh hưởng của Ấn Độ có đóng góp một phần, nhưng không phải là vai trò ưu thắng.  Phật Giáo là Phật Giáo Đại Thừa (Mahayana), không phải Tiểu Thừa của Miến Điện mặc dù, có lẽ ở vào một thời điểm sau này, dân chúng ở các khu vực biên giới, người T’ai và các sắc dân khác, đã chuyển theo phái Tiểu Thừa.

 Chính quyền được thành lập trên căn bản thể thức hành chính Trung Hoa, mặc dù không thấy xuất hiện bằng cớ tích cực về việc du nhập cuộc khảo thí tuyển dụng viên chức công quyền..  Có thể chủ nghĩa phong kiến thị tộc hãy còn quá mạnh đối với bước tiến này; người Trung Hoa thuộc lớp ưu tú, ngược lại, xem ra đã tự lập trên các đặc cấp về đất đai ở vào các vị thế không mấy khác với vị thế của các lãnh chúa bản xứ.  Bằng cớ về các thế hệ người Hoa kế nhau nắm giữ các chức vụ cao cấp trong chính quyền cho thấy một điều gì đó nhiều hơn khả năng thế tập; nó làm liên tưởng đến quyền lực và ảnh hưởng liên tục được đặt ít nhất một phần trên dòng tộc.  Trong phương cách này, có vẻ rằng xã hội Nam Chiếu đã có nhiều sự tương thích với Trung Hoa thời tiền Đường; thời đại của sự phân chia nam-bắc khi một chế độ quý tộc quân sự nắm giữ độc quyền chính trị, mặc dù có sử dụng đến các hình thức bổ nhiệm viên chức công quyền để che đậy cho điều trong thực tế là một thẩm quyền thế tập.  Một điều gì đó không quá khác biệt đã xảy ra tại Nhật Bản trong cùng thời kỳ này, nơi mà đề triều vay mượn các hình thức và tước hiệu của Trung Hoa (nhà Đường), nhưng đã phải nhìn nhận quyền lực liên tục của chế độ quý tộc thế tập bản xứ.  Ngay tại Trung Hoa, sự biến đổi một xã hội quý tộc thành một đế quốc thư lại do giới tư sản cai trị không phải đã xảy ra đột ngột hay chóng vánh; nó diễn ra trong thời đại nhà Đường, như chưa hoàn thành trọn vẹn cho mãi đến triều đại nhà Tống.

 Các nhà vua của Nam Chiếu tiếp tục chào đón các công chúa nhà Đường về làm cô dâu, và một vài sự lệ thuộc hình thức vào đế quốc vẫn còn được thừa nhận.  Trong năm 924, khoảng mười năm sau khi có sự xóa bộ toàn bộ triều đại nhà Đường, nhà vua Nam Chiếu đã cưới làm cô dâu con gái của kẻ tự xưng “hoàng đế” Trung Hoa kiểm soát các tỉnh cực nam của nhà Đường, tức Quảng Đông và Quảng Tây, dưới quốc hiệu Nam Hán (southern Han).  Vị vua này không hùng mạnh cũng như không hiếu chiến; cơ may của ông ta để trở thành hoàng đế toàn cõi Trung Hoa rất mong manh; nhưng ông là ông hoàng Trung Hoa gần gụi nhất đối với Nam Chiếu, và như thế có vẻ được xem là kẻ gần nhất  đối với người kế ngôi chính đáng cho chế độ nhà Đường đã sụp đổ.  Mặt khác, chính ngay chế độ Nam Chiếu đang mất thẩm quyền và cũng không sản sinh ra được các nhà vua có khả năng.  Vào cuối thế kỷ thứ mười, triều đại bản xứ bị lật đổ bởi một cuộc cách mạng đẫm náu (trong đó có lẽ hoàng tộc đã thực sự bị tận diệt), và quyền lực được nắm giữ bởi Tseng Mai-ssu, một quý tộc dòng dõi Trung Hoa, có tổ tiên bảy đời là Tseng Hui, một quan chức từ Tứ Xuyên phục vụ Quốc Vương Ko-lo-feng.  Tân vương bãi bỏ quốc hiệu mang rõ nét T’ai của vương quốc (Nam Chiếu, có nghĩa vương quốc miền nam) và đặt tên triều đại mới của mình là Đại Lý (Ta Li: Trật Tự Vĩ Đại), một tên gọi mà sau này đã gắn liền với kinh đô.  Hồi đầu thời kỳ nhà Tống, một cuộc cách mạng khác tại Đại Lý đã đưa gia tộc họ Tuan, cũng thuộc dòng dõi Trung Hoa, lên nắm quyền, và triều đại này đã kéo dài cho đến giai đoạn sau cùng của vương quốc Vân Nam.  Sự thống trị chính trị của các gia tộc có gốc Trung Hoa đã đẩy xa hơn nữa tiến trình Hán-hóa; điều này được thấy rõ rằng trong thời kỳ sau này, triều đại nhà Tuan [? họ Đoàn, ND], vương quốc Nam Chiếu cũ đã trở thành một quốc gia Hán-hóa và rằng nó không còn đưa ra bất kỳ sự đe dọa cụ thể nào đối với thẩm quyền Trung Hoa tại miền tây nam Trung Hoa.

 Quyền lực trung ương mới của Trung Hoa, nhà Tống, mà sự tái thống nhất đế quốc tan nát của nhà Đường đã tốn gần ba mươi năm, bằng ngoại giao nhiều hơn chiến tranh, vẫn chưa sẵn lòng để toan tính việc chinh phục và sáp nhập Vân Nam.  Sau khi chinh phục kẻ tranh ngôi địa phương ở Tứ Xuyên năm 967, khi viên tướng chinh phục trình với tân hoàng đế nhà Tống rằng việc xâm lăng và chiếm giữ vương quốc Đại Lý cũng dễ dàng, [nhưng] vị Hoàng Đế, sau khi nghiên cứu bản đồ, đã bác bỏ bất kỳ kế hoạch nào như thế, tuyên bố rằng mọi xứ sở nằm phía nam con sông Tatu, là một phụ lưu của sông Dương Tử, không phải đất của ông, và ông đã không có tham vọng trên đó.  Nhà Tống chính vì thế đã thừa nhận quyền của nước Nam Chiếu cũ, nay là Đại Lý, được hoàn toàn độc lập.  Chúng có vẻ còn không thực hiện sự thừa nhận chính thức quyền chủ tể của Trung Hoa nữa.  Các nhà vua họ Tuan về phân mình cũng muốn sống hòa bình với Trung Hoa, và đã không tiến hành các cuộc đột kích hay xâm lăng nào.  Khi một kẻ nổi loạn trong năm 1053 ẩn náu ở Đại Lý sau khi thất trận tại Trung Hoa, Nhà Vua đã bắt giao ông ta cho hoàng đế Trung Hoa.

 Nhà Tống có lý do vững chắc để từ bỏ bất kỳ tham vọng nào nhằm chinh phục Đại Lý.  Họ chưa kiểm soát hoàn toàn cả miền bắc Trung Hoa, bởi vùng đông bắc Hopei (Hà Bắc), kể cả Bắc Kinh, và vùng tây bắc kể cả phần lớn tỉnh Cam Túc, vẫn nằm ngoài thẩm quyền của họ, [mà] thuộc về triều đại nhà Liêu Thát Đát (Liao Tatar) ở đông bắc, và vương quốc [Tây] Hạ (Hsia), khống chế bởi dân Tibetan-Tangut (Tây Tạng-Tangut), ở phía tây bắc.  Hai quốc gia này thường thù nghịch, và kiểm soát các ngọn đèo dẫn dắt từ các thảo nguyên Mông Cổ tiến vào Trung Hoa.  Chiến tranh biên giới thì thường xuyên và mối đe dọa tiềm ẩn đối với nhà Tống là có thực và sau hết, rất nguy hiểm.  Kinh nghiệm nhà Đường xem ra chứng tỏ rằng Vân Nam có thể là mồ chôn các đội quân Trung Hoa đến từ phương bắc.  Chíunh vì thế, trong một thời gian dài, hơn ba trăm năm, đã không có áp lực nào của Trung Hoa trên Vân Nam theo ý nghĩa bành trướng về chính trị.  Chắc chắn đã có một ảnh hưởng văn hóa liên tục, không trở nên yếu đi, nhưng đối với người của thời đại đó, điều hẳn phải được nhận thức rằng Trung Hoa đã từ bỏ tham vọng của nó để sáp nhập Vân Nam, cũng chắc chắc y như nó đã từ bỏ một tham vọng tương tự tại Việt Nam.  Nền độc lập chung quyết của xứ sở kể sau [Việt Nam] đối với Trung Hoa đã được phê chuẩn bởi chính sách không hiếu chiến của nhà Tống, và điều rõ ràng rằng họ đã có cùng quyết định đối với Vân Nam.

 Hơn ba thế kỷ là một thời gian dài; một tình trạng được củng cố với thời khoảng này có thể được ước định sẽ là một tình trạng vĩnh viễn.  Nhà Tống không bao giờ thay đổi chính sách, và Đại Lý cũng thế.  Đã không có các cuộc xâm nhập vào các tỉnh của Trung Hoa, không có các cuộc đột kích ở biên cương, và không có sự xâm lấn các ranh giới.  Đại Lý, hay Nam Chiếu, trong thực tế đã không duy trì quyền lực cũ của nó trên các quận huyện xa xôi.  Các vùng đất không trở lại Trung Hoa, như tất cả vùng đất tại tỉnh Tứ Xuyên, đã phiêu dạt vào sự độc lập thị tộc thực sự, như tại Quý Châu, miền tây Vân Nam và miền bắc Miến Điện.  Vương quốc thì nhỏ bé hơn, nhưng an toàn.  Có lẽ quá an toàn; chỉ có ít tài liệu sơ sài của thời kỳ này phát hiện bất kỳ sinh hoạt văn hóa tích cực nào, hay bất kỳ sự phát triển nào của một cá tính dân tộc.  Không giống Việt Nam, độc lập và an ninh có vẻ đã có một hiệu quả làm mềm lòng hơn trên người dân Đại Lý.  Văn hóa Trung Hóa chế ngự, nhưng có vẻ mang tính chất địa phương trong sự biểu lộ của nó.  Tính chất hiếu chiến của thời kỳ Nam Chiếu đã được thay thế bởi sự yếu đuối về quân sự.  Viên tướng nhà Tống đã cố gắng thuyết phục vị hoàng đế của mình để chinh phục Đại Lý trong năm 967 có thể quá lạc quan khi nghĩ rằng chiến dịch là dễ dàng.  Ba thế kỷ sau đó quân xâm lăng Mông Cổ tìm thấy nó gần như không có bị chống đối.

 Với tài liệu thiếu sót, thật khó để khám phá đâu là các yếu tố xã hội đã mang tới sự biến đổi này.  Nhà Tống, như họ đã không tuyên xác quyền chủ tể, và không chịu sự đối nghịch của Đại Lý, nói chung đã im lặng trong các tài liệu lịch sử của họ về vương Đại Lý.  Các việc làm của Đai Lý không có ý nghĩa gì đối với Hoàng Đế cho nên chúng đã không được ghi chép.  Nếu Đại Lý có giữ tài liệu theo kiểu mẫu của sử ký Trung Hoa, các tài liệu này không còn nữa.  Xem ra người ta có thể lý luận về sự thiếu sót để xây dựng một dân tộc cố kết tại Vân Nam, như đã được làm tại Việt Nam, một phần cho quy luật của các gia đình Trung Hoa vốn có sự trung thành văn hóa, luôn luôn hướng đến Trung Hoa, và những kẻ không đếm xỉa hay không bảo trợ cho các khuynh hướng và khát vọng bản xứ.  Sự khác biệt căn cơ khác giữa hai xứ sở là bản chất phân tán nội tại của địa hình Vân Nam.  Mỗi thung lũng đã phải tự mưu sinh (và phần lớn hãy còn sống như vặy.  Việc mua bán thì yếu ớt, và chỉ ảnh hưởng đến vật dụng nhẹ, chẳng hạn như dược thảo có trị giá cao.  Không thể di chuyển một lượng gạo đáng kể từ thung lũng này sang thung lũng kia, băng ngang qua năm mươi dặm hay hơn nữa vùng núi non hoang dại, bằng sự khuân vác hay các con la, và bán nó với một giá phải chăng tại một thung lũng có lẽ cũng có một số thu hoạch phong phú không kém của chính nó.

 Các quận huyện phía tây của Vân Nam hãy còn được tiếp cận không mấy dễ dàng và không có thặng dư sản xuất.  Dân chúng của vùng đó hoặc hãy còn là các kẻ săn bắn sơ khai, các kẻ canh tác núi đồi theo lối đốt rừng làm rẫy, hay tạo thành một khu định cư thưa thớt tại các thung lũng sâu rất dễ mắc bịnh sốt rét.  Vượt quá các thung lũng này và các rặng núi cao chia cắt chúng là Miến Điện và thung lũng phì nhiều vùng thượng lưu sông Irrawaddy.  Vùng này đã có thể là miền sẽ đóng một vai trò đôi với Vân Nam giống như vai trò của Miền Nam Việt Nam đã thủ diễn trong lịch sử của Việt Nam: miền đất vàng phương nam nơi mà người nghèo có thể di chuyển đến, và nơi mà dân tộc tìm thấy một mục tiêu chung; nhưng chính trong các thế kỷ nhạt nhòa này của thời cuối vương quốc Nam Chiếu hay vương quốc Đại Lý mà chủng tộc chế ngự hiện nay của Miến Điện, chính người dân Miến, đổ xuống từ vùng biên giới Tây Tạng và chiếm cứ thung lũng sông Irrawaddy.  Có lẽ sự xâm nhập của họ đã trở nên khả dĩ nhờ các chiến thắng trước đó của Nam Chiếu trên vương quốc Pyu, mà Nam Chiếu đã chinh phục và hủy diệt, nhưng lại không nắm giữ và định cư trên lãnh thổ đó.  Có rất ít tài liệu về các giai đoạn của sự chinh phục và chiếm ngụ của Miến Điện, nhưng chắc chắn nó đã được hoàn tất trên một quy mô rộng lớn trong suốt ba thế kỷ có sự hiện hữu của vương quốc Đại Lý.  Chính vì thế thung lũng sông Irrawaddy đã bị biến mất trong bất kỳ viễn ảnh sáp nhập nào vào một nước Nam Chiếu to lớn hơn.  Chung cuộc, tiến triển này giúp cho một sự sáp nhập của Trung Hoa vùng Vân Nam là điều tất yếu, bởi sự tăng trưởng của Nam Chiếu trong phạm vi chính Vân Nam không thôi sẽ không bao giờ có thể sánh kịp với sự bành trướng về mặt nhân số và quyền lực của đế quốc Trung Hoa thống nhất, hay cung ứng nổi một căn cứ tự lực cho sự độc lập vĩnh viễn.

 Nền độc lập đó đã được bảo toàn quá lâu đến thế phần nhiều bởi sự yếu kém của nhà Tống sau này hơn là bởi sức mạnh hay sự quyết tâm của vương quốc Đại Lý.  Sau khi đánh mất miền bắc Trung Hoa năm 1126, đế quốc nhà Tống có một láng giềng nguy hiểm, trước tiên là đế quốc người Kim Thát Đát (Kin Tatar), sau này là đế quốc Mông Cổ mới, ở biên giới phía bắc của nó.  Khi người Kim, vốn bị ngăn chặn, bị đè bẹp bởi quân Mông Cổ năm 1234, số phận nhà Tống hầu như không tránh khỏi.  Vào khoảng giữa thế kỷ thứ mười ba, người Mông Cổ thống trị toàn thể thế giới Á Châu, từ Hàn Quốc cho đến các biên giới phía tây của Nga.  Không vương quốc nào kháng cự lại được họ, phần lớn đã ngã gục trong chiến dịch đầu tiên.  Kể từ khi có sự chinh phục của họ trên triều đại người Kim, Đại Đế Khan của Mông Cổ không che dấu tham vọng và ý định của họ là cũng sẽ chinh phục nhà Tống, và họ đã khởi sự việc xâm lấn vùng biên giới ngay sau khi sự chiếm đóng miền bắc được củng cố.

 Nhà Tống đưa ra một sự kháng cự bền bỉ, vốn bị ước lượng khá thấp bởi các sử gia.  Họ không có các đồng minh, và khó có thể hy vọng tìm thấy bất kỳ quyền lực nào trong thế giới vào thời đại của họ.  Họ không bao giờ đánh đuổi quân Mông Cổ ra khỏi một khu vực đã bị chinh phục nhưng họ đã phòng thủ thành công các cứ điểm trọng yếu trong nhiều năm, và phá hỏng các cuộc xâm lăng nhắm vào các tỉnh ở dọc sông Dương Tử.  Người Mông Cổ, nhận thức được các khó khăn của một cuộc tấn công trực diện, đã quyết định đánh vào bên sườn đế quốc nhà Tống bằng cách chiếm đoạt tỉnh phía tây của nó, Tứ Xuyên, và di chuyển vào miền tây nam, chính vì thế, đi vòng qua phòng tuyến sông Dương Tử và thọc vào lãnh thổ nhà Tống từ hướng tây nam.  Dưới thời Mangu Khan, chính sách này được giao thác cho một trong các người con trai của ông, Kubilai (hay Kublai) (tức Hốt Tất Liệt), sau này trị vì như vị hoàng đế Mông Cổ đầu tiên trên toàn cõi Trung Hoa, và đã trở nên, nhờ Marco Polo, người gốc thành phố Venice phục vụ ông ta, nhà cai trị nổi tiếng nhất trong tất cả các nhà lãnh đạo Trung Hoa đối với thế giới Tây Phương.

 Năm 1252, Kubilai tập hợp lực lượng của mình tại miền nam tỉnh Cam Túc, và khởi sự một cuộc đột tiến xuyên qua biên giới phía tây của Tứ Xuyên (tỉnh vẫn chưa hoàn toàn nằm dưới sự chiếm đóng của quân Mông Cổ, dọc theo một “con lộ chưa được biết đến, nằm giữa núi cao và vực thẳm”, hẳn phải chạy song song gần sát với con đường nổi tiếng băng ngang vùng thảo nguyên Tây Tạng đã được rong ruổi, theo chiều ngược lại, bởi các đội quân Cộng Sản trong cuộc Trường Chinh của họ năm 1935.  Quân Mông Cổ vượt qua sông Tatu, khi đó là biên cương giữa Tứ Xuyên và vương quốc Đại Lý, và quét xuống Vân Nam.  Sự tràn đến của họ hoàn toàn bất ngờ, bởi họ đã thực hiện một cuộc tiến quân dài hơn sáu trăm dặm xuyên qua khu vực hoang dại hầu như không được biết tới bởi khách du hành.  Đại Lý thực sự không đưa ra một sự kháng cự nào cả, nhà vua chịu khuất phục, và vương quốc bị rút lại thành một tỉnh của Mông Cổ.  Không lâu quân Mông Cổ đã xâm nhập vùng biên giới phía tây và xâm lăng Miến Điện, nơi tuy thế họ nhận thấy khí hậu không thuận lợi cho sự chiếm đóng thường trực của họ.  Bị đánh vào cạnh sườn, khả năng kháng cự của nhà Tống đã bị sút giảm đáng kể; trong vòng chưa tới hai mươi năm sau cuộc chinh phục Vân Nam, nhà Tống đã hoàn toàn bị hủy diệt và Kubilai đã trị vì như Hoàng Đế toàn cõi Trung Hoa trên một lãnh địa rộng lớn hơn bất kỳ địa bàn nào trước đó.  Ông cũng là vị chúa tể được nhìn nhận của các kha hãn (Khan: phiên chúa) Mông Cổ, các thân nhân của ông cai trị vùng trung Á Châu, đông Nga, Ba Tư và phần lớn vùng Trung Đông.

 Cuộc chinh phục Vân Nam chính vì thế không phải là công trình của đế quốc Trung Hoa dưới các nhà cai trị Trung Hoa, mà là một phó sản của cuộc chinh phục của Mông Cổ trên chính Trung Hoa.  Nó có thể sẽ không bao giờ xảy ra nếu không có các cuộc xâm chiếm của Mông Cổ, hay nó có thể bị trì hoãn cho đến khi có một triều đại Trung Hoa hùng mạnh hơn kế thừa nhà Tống, nhưng một khi hoàn tất theo cung cách này, nó không bao giờ bị đảo ngược.  Người dân Vân Nam không có cảm thức về cá tính dân tộc có thể khởi hứng cho họ phản kháng, khi quyền lực Mông Cổ bị suy yếu, hay ngăn chặn thẩm quyên của triều đại Trung Hoa đã đánh đuổi quân Mông Cổ ra khỏi Trung Hoa.  Quân Mông Cổ đã đặt tên đầu tiên cho toàn miền sáp nhập gồm vương quốc Đại Lý bị sụp đổ, cũng như các khu vực khác mà nó đã không cai trị trong nhiều năm, danh xưng tỉnh Vân Nam, làm sống lại tên thời Hán cổ xưa chỉ dùng để chỉ phần phía đông của cao nguyên Vân Nam.  Họ đã trao chính quyền của tỉnh mới lập cho một người theo đạo Hồi giáo từ trung Á Châu phục vụ dưới trướng vị Đại Hãn (Great Khan), và nhân vật này, cùng các người kế thừa thuộc cùng chủng tộc và tín ngưỡng, đã du nhập một lượng lớn các người đồng hương làm các binh sĩ đồn trú đến định cư tại các trung tâm quan trọng về nông nghiệp và chính quyền.  Đây là nguồn gốc của cộng đồng Hồi Giáo Vân Nam, đã có lúc lớn hơn nhiều so với cộng đồng kể từ sau cuộc nổi dậy lớn lao của họ hồi thế kỷ thứ mười chin, nhưng vẫn còn là một thành phần quan trọng trong dân số.

 Mặc dù sự kháng cự của chính Đại Lý không đáng kể, có bằng cớ rằng sự chống đối của các thị tộc đối với sự chinh phục của Mông Cổ hẳn phải đáng sợ hơn nhiều, bởi Marco Polo, kẻ đã du hành xuyên qua Vân Nam đến Miến Điện vài năm sau cuộc chinh phục, có mô tả xứ sở như vẫn còn gánh chịu sự tàn phá sâu rộng, các thành phố gần như không người cư ngụ, các làng mạc bị bỏ hoang, và đất trồng lúa gạo mọc trở lại cỏ dại.  Đó là một bức tranh có thể được phác họa của nhiều xứ sở trải qua sự công kích của quân Mông Cổ.   Giờ đây là một tỉnh biên giới xa xôi, Vân Nam không có vẻ được hưởng nhiều sự thịnh vượng từ sự hợp nhất đầu tiên của nó với Trung Hoa.  Gần như di tích kỷ niệm duy nhất sự thống trị của Mông Cổ là một bia ký được dựng bên ngoài thành phố Đại Lý trên một phiến đá cẩm thạch lớn, chứa đựng, trong một mớ hỗn tạp mọi rợ của tiếng Trung Hoa bị Mông Cổ hóa và tiếng Trung Hoa thông tục, một huấn lệnh cho các binh sĩ của hoàng đế Mông Cổ không được quấy rầy các nhà sư Phật Giáo của tu viện Ba Ngôi Chùa (Three Pagoda) vĩ đại, mà các phế tích vẫn còn chứng thực cho các nét huy hoàng của kiến trúc Nam Chiếu từ thế kỷ thứ tám.

 Vân Nam đã thành tỉnh đầu tiên trong các tỉnh miền nam Trung Hoa nằm dưới sự kỉểm soát của Mông Cổ, và nó cũng là tỉnh cuối cùng tại Trung Hoa mà người Mông Cổ nắm giữ, ngay cả sau khi họ đã mất Bắc Kinh và bị đuổi ra khỏi các tỉnh miền bắc.  Tổng cộng họ đã chiếm giữ Vân Nam trong một trăm ba mươi năm.  Phải chờ mãi mười lăm năm sau khi kẻ sáng lập triều đại nhà Minh được thừa nhận là nhà lãnh đạo toàn thể đế quốc Trung Hoa, ông ta mới phái các đội quân của ông đến trục xuất người Mông Cổ ra khỏi bàn đạp sau cùng của họ, tức là Vân Nam.  Chính vì thế, có thể rằng vị Hoàng Đế nhà Minh đầu tiên đã không nhìn cuộc chinh phục Vân Nam, vốn không phải là một lãnh thổ sở hữu của Trung Hoa trong bất kỳ ý nghĩa cụ thể nào dưới các triều đại trước đó, như một hậu quả hợp lý của cuộc chinh phục của ông ta đối với triều đại Mông Cổ.  Nếu chính người Mông Cổ không phải là các kẻ cai trị thực sự tại Vân Nam, điều có thể suy tưởng rằng nhà Minh sẽ để cho một triều đại bản xứ được yên hòa, như nhà Tống đã làm bốn trăm năm trước đó.  Nhưng tại Vân Nam, người Mông Cổ vẫn ở tư thế đe dọa, ngay dù chỉ là một mối đe dọa mong manh, đối với nhà Minh chiến thắng; họ có thể thành lập một tiền trạm mà một quyền lực hồi sinh của Mông Cổ có thể sử dụng cho một cxuộc xâm lăng khác.  Như thế Vân Nam đã bị xâm lăng năm 1382 bởi các đội quân của Hoàng Đế Hồng Vũ (Hung Wu) nhà Minh, lại bị chinh phịuc một lần nữa, và chính từ đó, bị sáp nhập chung cuộc vào một đế quốc Trung Hoa dưới quyền một vị chúa tể Trung Hoa.  Các đai diện khiêm tốn cuối cùng của triều đại nhà Tuan, các kẻ thụ hưởng một số thẩm quyền hình thức dưới thời Mông Cổ, bị loại bỏ, và Vân Nam trở thành một tỉnh của đế quốc mới trên cùng căn bản giống như bất kỳ tỉnh nào khác.

 Một nhập lượng dân định cư lớn lao khác đã đến cùng với các đội quân nhà Minh.  Họ là người Trung Hoa, chính yếu từ các tỉnh dọc sông Dương Tử, khi đó là trung tâm chính yếu của quyền lực nhà Minh.  Họ đã trở nên ổn định như các điền chủ và giới tư sản địa phương tại tất cả các trung tâm đô thị chính yếu và các đồng bằng nông nghiệp quan trọng.  Các gia tộc cổ xưa nhất và kiêu hãnh nhất của Đai Lý ngày nay là (hay đúng hơn, trước thời Cộng Hòa Nhân Dân, đã là) hậu duệ không phải của các thũ lãnh Nam Chiếu hay ngay của các người Vân Nam đã Hán hóa của vuơng quốc Đại Lý,  mà là con cháu của các sĩ quan trong các đội quân của Minh Hồng Vũ Hoàng Đế.  Dấu ấn nhà Minh trên Vân Nam đã lưu tồn và còn được nhận thấy.  Các ngôi chùa và tượng đài thuộc niên đại nhà Minh có rất nhiều; các chiếc câu treo bằng xích sát đặc sắc bắc ngang sông Cửu Long và sông Salween, cũng như nhiều con sông nhỏ hơn ở miền tây Vân Nam chứng thực cho sinh khí của chế độ mới và sự quan tâm của nó vào việc cải tiến các sự giao thông.  Nhiều thành phố của Vân Nam mắc nợ hình thức hiện đại của chúng nơi các nhà xây dựng thời Minh, và nhiều thành phố phản ảnh, nơi các bức tường thành thẳng đứng bao quanh và các đường phố cắt nhau, mẫu họa đồ thiết kế thành phố chung của miền bắc Trung Hoa, các bản sao chép thu nhỏ của Bắc Kinh.  Hệ thống đường lộ của các đoàn lữ hành, giờ đây đã bị đổ nát quá nhiều, nguyên thủy là một mạng lưới của các lối đi có mặt đường lát gạch đá, băng ngang các rặng núi và các dòng sông, và nối liền mọi thành phố trong tỉnh với phần còn lại của Trung Hoa, và sau hết, với Bắc Kinh.  Đây cũng là công trình thời nhà Minh.  Dọc theo các lộ này, Hoàng Đế Vĩnh Lạc (Yung Lo) nhà Minh, khi xây cất hoàng cung hiện tại ở Bắc Kinh năm 1405, các có các tấm đá cẩm thạch to lớn, được lấy từ cao nguyên nguyên Đại Lý, nơi sườn núi, rồi đẩy và lăn hàng trăm dặm cho đến khi chúng có theo được vận chuyển bằng các chiếc bè tại các chi lưu thượng nguồn của các con sông thuộc tỉnh Hồ Nam.  Các phiến đá có chiều dài 18 bộ Anh, rộng gần 5 bộ Anh, và được giả thiết có chiều dày cân xứng với các kích thước này.

 Đã có cuộc nhập cư liên tục và đáng kể của người Trung Hoa vào Vân Nam trong suốt thời nhà Minh.  Nhiều gia đình tự nhận là hậu duệ của các binh sĩ hay nhà hành chính của nhà Minh, và nói rằng họ nguyên quán tại “Nam Kinh”, theo đó họ hiểu là tỉnh Giang Tô và vùng hạ lưu sông Dương Tử.  Phương thức gửi các người bị lưu đầy đến nhiều địa điểm khác nhau tại Vân Nam xem ra cũng đã bắt đầu thời nhà Minh.  Những người này luôn luôn được gửi đến cùng huyện ở Vân Nam, nơi mà các kẻ lưu vong trước đó từ cùng một huyện tại nội địa Trung Hoa đã đến.  Chính vì thế, thổ ngữ có khuynh hướng trở nên ổn định hóa và khác nhau.  Các cư dân của Paoshan (Yungch’ang thời cổ) nằm giữa sông Cửu Long và sông Salween, phần lớn là hậu duệ của các kẻ lưu vong đến từ miền hạ lưu sông Dương Tử, và trong thực tế nói thổ ngữ Nam Kinh với rất ít sự khác biệt so với các người nói tiếng bản địa của kinh đô phương nam, với những người mà họ chưa bao giờ có một sự tiếp xúc mong manh nhất.  Các sự khác biệt tương tư xuất hiện mọi nơi khác; người dân Đại Lý có một giọng nói rất nặng tiếng Pai (Bạch) địa phương, ngay cả các gia đình tự nhận có phía tổ tiên phụ hệ là Trung Hoa.  Các cư dân tại Côn Minh, tỉnh lỵ, nói với khẩu âm có sự liên hệ gần gủi dễ nhận thấy với cách nói thông thường ở Bắc Kinh.  Có một lý do đặc biệt cho sự kiện này, phát sinh từ một trong các lớp lang của lịch sử thời cuối nhà Minh, rất quan trọng trong lịch sử của Vân Nam và sự đồng hóa của nó vào văn minh Trung Hoa.

 Sau cuộc chinh phục của nhà Minh không thấy có xuất hiện bất kỳ phong trào quan trọng nào đòi giải phóng ra khỏi sự thống trị của Trung Hoa.  Bất luận có phải rằng các lực lượng của quyền lực đế quốc mới quá hùng mạnh hay chăng, hay có phải, khi xét đến các lợi lộc chắc chắn mà sự đô hộ Nhà Minh ban cho, người dân Vân Nam đã không có ý muốn đấu tranh cho nền độc lập hay không, xem ra nhà Minh đã trị vì mà không bị thách đố tại Vân Nam cho đến khi kết thúc triều đại.  Tuy nhiên, trong những năm theo sau sự xâm nhập của Mãn Châu vào Trung Hoa năm 1644, một loạt các biến cố mang đến một tình trạng xem ra nhiều phần làm sống lại quốc gia độc lập ở Vân Nam, cho dù dưới một vị tiểu vương chư hầu gốc Trung Hoa, chứ không phải người bản xứ.  Viên tướng Ngô Tam Quế (Wu San-kuei) ngày nay không phải là một anh hùng đối với người dân Trung Hoa; chính ông ta là người đã cho phép người Mãn Châu tiến vào Trung Hoa và sau đó giúp họ dẹp tan sự kháng cự được đưa ra bởi các kẻ muốn phục hồi nhà Minh.  Lúc cuối đời, đến lượt ông ta phản kháng chống lại Hoàng Đế Mãn Châu và đã chết trong khi chiến đấu chống lại vị hoàng đế này.  Nhưng chính Ngô Tam Quế là kẻ đã giúp cho cuộc chinh phục của Mãn Châu trở nên khả thi.  Là một tướng lĩnh xuất sắc, ông ta chỉ huy đội quân biên cảnh đồn trú tại Sơn Hải Quan (Shanhaikuan), nơi mà bức Trường Thành chạm đến biển, một cửa ải chiến lược nằm giữa Mãn Châu và chính Trung Hoa.  Vương quốc mãn Châu đã sẵn cai trị tỉnh Liêu Đông (Liaotung) trước đây thuộc Trung Hoa (quê quán của Ngô Tam Quế), bên ngoài Trường Thành.  Năm 1644, kẻ nổi loạn Lý Tự Thành (Li Tzu-ch’eng) đã chiếm giữ Bắc Kinh và Hoàng Đế nhà Minh [Tư Tôn, ND] đã tự vẫn.  Kẻ nổi loạn họ Lý tự tuyên xưng là hoàng đế và gửi lời nhắn nhủ đến Ngô Tam Quế, cách xa hai trăm dặm về phía đông, hãy thần phục triều đại mới, với việc hứa hẹn các sự tưởng thưởng lớn lao.  Nếu họ Ngô chấp nhận các đề nghị này, người Mãn Châu sẽ không bao giờ tiến vào được Trung Hoa.  Họ Lý và họ Ngô cùng nhau sẽ tạo thành một sự phòng thủ vũng chắc cho vùng biên giới, và triều đại Shun mới lập của họ Lý sẽ thay thế nhà Minh.  Nhưng một sự tranh chấp cá nhân [nhiều tài liệu cho rằng vì Lý Tự Thành chưa giao trả một ái thiếp của Ngô Tam Quế bị bắt giữ bởi một thuộc tướng của Lý Tự Thành, chú của người dịch] đã phân cách Ngô Tam Quế với vị tân vương vị lai của ông.  Ông ta lưỡng lự, sau đó đã quyết định, thay vào đó, mời người Mãn Châu vào giúp ông ta diệt trừ kẻ nổi loạn Lý Tự Thành.  Đây là nguyên do trước nhất cho cuộc chinh phục của người Mãn Châu.

 Một khi người Mãn Châu đã được dựng lên tại Bắc Kinh, họ đã dành cho ông các danh vọng to lớn, và không lâu đã phái ông cùng binh sĩ của ông đi truy kích quân nổi dậy đã bị đánh dẹp, và sau đó đã dẹp tan các phong trào kháng chiến của các người muốn phục hồi nhà Minh.  Trong ba mươi năm, Ngô Tam Quế đã phục vụ họ một cách tốt đẹp trong các nhiệm vụ này, và trong năm 1657, ông ta đã xâm nhập Vân Nam vốn là tỉnh cuối cùng dưới sự cai trị của nhà Minh, và đã chinh phục nó, đánh đuổi kẻ tự xưng vua nhà Minh cuối cùng phải chạy trốn sang Miến Điện.  Năm 1661, ông đã xâm nhập Miến Điện, đánh bại một liên quân Trung Hoa-Miến Điện, và tiến binh chưa đầy sáu mươi dặm tới Mandalay, kinh đô [Miến Điện lúc bấy giờ, ND].  Đến nước này, nhà vua Miến Điện nhận thấy sự phản bội là mặt tốt hơn của lòng dũng cảm; ông đã trao trả ông Hoàng nhà Minh [cuối cùng, tức Quế Vương, chú của người dịch] cho Ngô Tam Quế với điều kiện quân Trung Hoa phải rút ra khỏi xứ sở.  Họ Ngô dẫn tù nhân quay về Côn Minh, và ra lệnh xử tử ông ta, như thế đã tận diệt nhà Minh.  Người Mãn Châu tưởng thưởng họ Ngô bằng việc cử ông làm tổng đốc cả về mặt dân sự lẫn quân sự hai tỉnh Vân nam và Quý Châu với tước vương.  Ảnh hưởng của ông rất mạnh tại các tỉnh lân cận vừa mới bình định xong là Hồ Nam và Tứ Xuyên, và còn vang xa đến tận vùng đông bắc như các tỉnh Thiểm Tây và Cam Túc.  Tại tất cả các khu vực này, Ngô Tam Quế đã bổ nhiệm các quan chức, hay phải được tham khảo trước khi có sự bổ nhiệm bất kỳ người nào.  Ông ta gần như một ông hoàng độc lập.

 Sau mười năm của quan hệ phiền hà này, song hành cùng với hai ông Phiên Vương Trung Hoa được gọi là “phong kiến” khác [gồm Ngô Tam Quế là Bình Tây Vương, và hai kẻ khác là Bình Nam Vương và Tĩnh Nam Vương.  Sau khi Ngô Tam Quế từ trần, hai phiên vương này đều bị nhà Mãn Thanh loại trừ, chú của người dịch], cũng là các tướng lĩnh nhà Minh như họ Ngô, tại các phần đất khác ở miền nam Trung Hoa, Triều Đình Mãn Châu đã cảm thấy đủ mạnh để thách đố quyền lực của họ và đập tan nó nếu chứng tỏ là ngoan cố.  Các danh vọng cao quý được ban cho các ông hoàng Trung Hoa này, nhưng tư thế độc lập của họ bị bãi bỏ.  Các ông hoàng khác đã chấp nhận.  Ngô Tam Quế bác bỏ lời hứa trung thành này, tuyên bố độc lập và trong năm 1673 tự tuyên xưng là Tổng Tư Lệnh Vĩ Đại của triều đại nhà Chou [? Chẩu hay Chu, ND] mới.  Ông không tức thời mang danh hoàng đế, phù hợp với một tập quán Trung Hoa cổ xưa đòi hơn, hay còn kỳ vọng, một vị tuyên xưng làm tân hoàng hãy chứng minh mình là kẻ chiến thắng – chính vì thế là có Mệnh Trời – trước khi đảm nhận tước vị quân vương tối cao, vị kinh lược được ủy thác của ông Trời tại trần thế.  Về mặt thực tế, khi Ngô Tam Quế đảm nhận danh tước hoàng đế, vào năm 1678, sự chuyển động của ông đã không thực hiện được sự tiến triển mau lẹ.  Ông đã có năm năm chiến đấu khó khăn với người Mãn Châu tại Hồ Nam và Tứ Xuyên, và ga6`n đó còn gặp phải các sự thất lợi tại Quảng Tây.  Năm tháng rưỡi sau khi tự xưng là Hoàng Đế Chao Wu của triều đại nhà Chou, Ngô Tam Quế từ trần.   Xem ra có lẽ ông đã quyết định thực hiện bước tiến cuối cùng này với sự nhận thức rằng ông không còn sống được bao lâu nữa và để làm dễ dàng cho sự kế ngôi của đứa cháu trai của ông, Wu Shih-fan, kẻ đã lên ngôi tại Côn Minh, kinh đô của đế quốc nhà Chou này.

 Không thể nói chắc rằng nếu Ngô Tam Quế, như một người trẻ tuổi hơn khi ông ta vứt bỏ lòng trung thành với Triều Đình Mãn Châu ngoại lai và xa xôi, ông ta có thành công hay không trong việc tái lập một vương quốc mới của Nam Chiếu hay bất kỳ quốc hiệu nào mà ông có thể đặt cho nó, tại Vân nam.  Ông đã sáu mươi sáu tuổi khi mất đi; nếu còn sống, có lẽ ông không thể đánh đuổi người Mãn Châu ra khỏ miền bắc Trung Hoa, nơi mà họ gặp ít sự chống đối, nhưng ông có thể làm rung động quyền lực mới của họ tại miền nam và củng cố quyền lực của chính ông tại miền tây nam.  Con trai của ông không có được khả năng của ông; vào năm 1681 nhà Mãn Châu bao vây anh ta ngay tại Côn Minh, và khi không còn hy vọng được giải cứu, anh ta đã tự vẫn.  Thành phố bị sụp đổ, quân Mãn Thanh đã tàn sát các kẻ đi theo gia đình họ Ngô, nhưng đã để lại khối đông đảo các binh sĩ của họ, các người gốc tại miền bắc, như các kẻ bán lưu đầy tại Côn Minh, sự kiện kể từ đó giữ lại mãi mãi một vẻ gì đó của một thành phố phương bắc và một Bắc Kinh thu nhỏ mà Ngô Tam Quế đã ban tặng cho nó trong hai mươi năm lưu trú của ông.  Chính vì thế một sự phục sinh khả dĩ của một vương quốc độc lập tại Vân Nam đã sụp đổ.  Các kẻ lưu đãy nhiều hơn và sự cai trị của Mãn Châu đã nâng cao sự hán hóa xứ sở mà Ngô Tam Quế, bản thân là một người miền bắc, trong thực tế, đã phát triển.

 Trong hai trăm năm, cho đến khi chính quyền lực Mãn Châu bị suy giảm rất nhiều, không có phong trào ở tầm mức đáng kể nào dành độc lập cho Vân Nam được phát khởi.  Khi một cuộc nổi dậy như thế đã xảy ra vào giữa thế kỷ thứ mười chin, nó đã không được lãnh đạo bởi người gốc Trung Hoa định cư tại Vân Nam, hay bởi cư dân bản xứ, mà bởi các di dân Hồi Giáo.  Cộng đồng này, như đã được nói đến, có nguồn gốc dưới thời đô hộ của Mông Cổ, là các lính đánh thuê được mang đến từ vùng trung Á Châu.  Vào cuối thế kỷ thứ mười chin, cộng động đông đảo, giàu có và cũng tự cảm thấy bị đàn áp.  Giữ độc quyền công cuộc mậu dịch của các đoàn lữ hành, vốn là phương tiện chuyên chở duy nhất tại tỉnh miền núi, người Hồi Giáo Vân Nam đã định cư tại tất cả các thành phố quan trọng dọc theo các trục lộ chính.  Chính vì thế, chúng ở vào các vị trí tốt để nổi dậy, nhưng cũng là các địa điểm tốt để bị bòn rút bởi các quan chức tham nhũng, các kẻ đầy rẫy vào khoảng giữa thế kỷ thứ mười chín.  Xem ra có lẽ rằng sau cuộc chinh phục của nhà Minh, các dân định cư Hồi Giáo, các đầy tớ phục dịch của quân Mông Cổ  thất trận, đã không được tin cậy hay chấp nhận như các thần dân trung thành.  Họ đã mất đi tư thế, và mặc dù thừa kế các truyền thống hiếu chiến từ các tiền nhân quân sự của họ, đã không được trưng tập làm binh sĩ.  Họ hướng đến ngành vận tải và các kỹ nghệ liên hệ, một số lượng tương đối ít người trong họ theo đuổi ngành canh nông.

 Năm 1835, đế quốc Mãn Châu ở vào một tình trạng khó khăn; nó mới bị đánh bại trong cuộc Chiến Tranh Nha Phiến bởi Anh Quốc; trong năm 1851 cuộc nổi dậy của Thái Bình Thiên Quốc đã bùng nổ tại các tỉnh miền nam, và trong năm 1853, sau khi đã càn quét khắp miền nam Trung Hoa và xuôi dòng Dương Tử, quân nổi dậy đã chiếm giữ Nam Kinh, kinh đô miền nam, và tuyên cáo ở đó [sự thành lập] Thái Bình Thiên Quốc (T’ai P’ing T’ien kuo).  Bởi quân nổi dậy nắm quyền kiểm soát phần lớn thung lũng sông Dương Tử, và đe dọa di chuyển lên phía bắc đến Bắc Kinh, sự giao thông giữa miền bắc Trung Hoa và các tỉnh tây nam thì bất trắc hay rất vòng vo.  Đối với các người Hồi Giáo ở Vân Nam, các biến cố này xem ra đã mang lại một cơ hội chưa từng có để nổi dậy và đánh đuổi quyền lực Mãn Châu ra khỏi Vân Nam.  Không giống như cuộc phản kháng của Ngô Tam Quế, mặc dù đặt căn cứ tại Vân Nam, nhắm vào việc trục xuất người Mãn Châu ra khỏi bờ cõi Trung Hoa, người Hồi Giáo Vân Nam chỉ tìm cách dành đoạt quyền lực tại chính Vân Nam và thiết lập ở đó một vương quốc Hồi Giáo.  Họ không có mối liên kết với quân nổi dậy Thái Bình theo tà đạo Thiên Chúa, trừ việc các chiến thắng của Thái Bình đã tạo sự thuận lợi cho cuộc nổi dậy của chính họ ở Vân Nam.

 Nhà lãnh đạo tinh thần của phong trào là một kẻ theo đạo Hồi sinh đẻ tại Đại Lý, có tên là Ma Te-hsin, sinh sống tại Côn Minh, và là một nhà thần học Hồi Giao (Mullah) hay một giáo sĩ Hồi Giáo.  Bất kể sự liên hệ của ông với cuộc phản kháng, chính quyền Mãn Châu trong nhiều năm đã không bắt giữ ông ta, mặc dù có vẻ là ông đã sinh sống tại một khu vực mà họ đã chế ngự trong phần lớn thời khoảng đó.  Nhà lãnh đạo quân sự là một người nào đó tên là Tu Wen-hsiu, cũng gốc từ Đại Lý, kẻ đã tuyên cáo một cách dứt khoát ý định của ông nhằm thiết lập một vương quốc Hồi Giáo.  Nước này ông ta gọi là Bình Nam Quốc (P’ing Nan Kuo) (Vương Quốc Miền Nam An Bình), và chính ông đảm nhận vương tước Hồi Giao là Quốc Vương (Sultan) với danh xưng bằng tiếng Ả Rập là Suleiman.  Điều này tự nó chứng minh tính chất dân tộc và địa phương (Hồi Giáo) cho phong trào của ông ta.  Không “Quốc Vương Hồi Giáo” nào có thể ao ước để cai trị Trung Hoa, không người nào với một danh tính ngoại quốc lại sẽ được chấp nhận làm hoàng đế Trung Hoa.  Ông Tu đã không chỉ hay biết về các liên hệ quốc tế của các người theo đạo Hồi Giáo, mà còn đã thẩm định tình hình của Vân Nam trong chiều hướng này.  Ông đã mau chóng chinh phục toàn thể miền tây Vân Nam, cho đến khi vương quốc của ông ta tiến sát vào vương quốc Miến Điện, chẳng bao lâu sau bị ngã gục trước sự chinh phục của người Anh.  Ông Tu hay biết về nhược điểm của Miến Điện; ông đã không tìm cách liên minh với các nhà cai trị theo Phật Giáo này, nhưng đã tiếp xúc với người Anh, đã sẵn có mặt tại miền nam Miến Điện, bằng một lá thư gửi đến Nữ Hoàng Victoria, yêu cầu đuợc thừa nhận như quốc vương của Bình Nam Quốc.  Điều này đã không được chấp nhận bởi Nữ Hoàng hay các cận thần của bà; vào lúc đó người Anh chưa sẵn sàng để thúc đẩy sự giải tán đế quốc Mãn Châu.  Nếu họ đã làm ngược lại, ít nhất rất có thể một Vân Nam độc lập do Hồi Giáo thống trị đã có thể xuất hiện và tồn tại.

 Nhược điểm của Tu Wen-hsiu và các người ủng hộ ông là họ chỉ tượng trưng cho một quyền lợi cục bộ tại Vân Nam, một miền đất mãi mãi bị phân cắt bởi địa dư và cũng bởi cảm thức về chủng tộc và địa phương.  Xem ra đã không có lực tập hợp được dân chúng bản địa cho lý cớ của Quốc Vương Hồi Giáo; tương tự cũng không có sự chống đối công khai với duyên cớ đó từ các phần tử này.  Dân chúng Trung Hoa, nếu không tích cực phản đối, cũng giữ nguyên thái độ thụ động.  Sự chống đối thực sự đến từ các đội quân của triều đại Mãn Châu, mặc dù các đội quân này trong thực tế là các lực lượng Trung Hoa nằm dưới sự chỉ huy của người Trung Hoa.  Ts’en Yu-ying là một con người khác thường  Phát sinh từ một gia đình gốc Trung Hoa định cư từ lâu tại các khu vực thị tộc của tỉnh Quảng Tây,  gia đình của ông đã là các lãnh chúa phong kiến địa phương được nhìn nhận của một thị tộc như thế trong nhiều thế kỷ, song họ đã giữ lại văn hóa, ngôn ngữ Trung Hoa và dành đạt được các chức vụ chính thức.  Bản thân ông Ts’en chính vì thế là một người dân vùng tây nam, chứ không phải kẻ xâm nhập từ miền bắc như Ngô Tam Quế, và có lẽ sự việc cũng dễ dàng hơn cho ông để tự lập mình thành vị chúa tể của miền tây nam ly khai hơn là ông Tu Wen-hsiu theo Hồi Giáo.  Nhưng họ Ts’en đã trung thành với Triều Đinh tại Bắc Kinh, và Triều Đinh đó, không còn ở vị thế hành xử nhiều ảnh hưởng cho phân đất riêng của chính họ tại các tỉnh tây nam xa xôi, đã ủy thác cho ông ta trọn vẹn quyền lực.

 Đó là một cuộc chiến tranh lâu dài và tác hại, được phóng ra phần lớn trên cao nguyên Vân Nam, giữa Đại Lý và Côn Minh.  Ngay từ 1857, Ts’en Yu-ying đã tiến quân vào Đại Lý, nhưng bị đẩy lui.  Trong cùng năm, quân Hồi Giáo bao vây Côn Minh, lập lại mưu toan này trong năm 1861, và sau cùng, dưới sự chỉ huy của Tu Wen-hsiu, đã chiếm đóng thành phố một cách ngắn ngủi trong năm 1863.  Nhưng các sự bất đồng và ghen tỵ của phe Hồi Giáo, sự đầu hàng của một số thủ lĩnh của họ, và các cuộc tranh chấp bùng nổ giữa các người khác, đã hủy hoại các cơ may để củng cố các thắng lợi của họ.  Dần dần, Ts’en Yu-ying đã phục hồi và ổn định hóa miền đông của tỉnh.  Cho mãi đến năm 1968, Tu Wen-hsiu vẫn có khả năng bao vây Côn Minh trong một năm trường, nhưng khi cuộc vây hãm đã bị phải bị bãi bỏ trong năm 1869, đó là một khúc rẽ trong cuộc chiến tranh lâu dài.  Các cuộc công hãm kéo dài và lập lại nhiều lần vào một thành phố có tường thành bao quanh hẳn phải là một trong số các thí dụ cuối cùng của hình thái chiến tranh cổ xưa trong lịch sử. *  Ts’en giờ đây được bổ làm phiên vương Vân Nam và đã giao cho thuộc cấp của ông, Yang Yu-k’o, thực hiện trận đánh cuối cùng.  Yang tiến đánh Đại Lý năm 1872 và cưỡng chiếm lôi đi qua đèo Hạ Quan nằm ở mỏm phía nam của hồ nước.  Sau đó ông đã mở cuộc bao vây chính thành phố và chiếm lấy thành phố sau một cuộc kháng cự dũng mãnh và kéo dài.  Ngay sau khi có sự từ trần của Tu Wen-hsiu (kẻ đã cố tự vẫn nhưng đã bị giao nạp bởi các cận vệ của ông trước khi ông có thể làm như thế), người Hồi Giáo vẫn kháng cự bên trong lẫn ngoài thành phố trong gần một năm.  Hàng nghìn người trong họ đã bị hạ sát, nhưng vẫn tiếp tục chiến đấu.  Khi công cuộc bình định được hoàn tất, dân số của tỉnh được ước lượng đã giảm từ tám triệu người xuống khoảng ba triệu người, mặc dù được nghĩ rằng nhiều người trong số mất tích trong thực tế đã chạy trốn sang các miền hòa bình hơn.

 Chính vì thế đã chấm dứt nỗ lực sau cùng để tách rời Vân Nam ra khỏi Trung Hoa, bởi đó chính là một toan tính rõ rệt muốn làm như thế, hầu thiết lập một vương quốc Hồi Giáo độc lập.  Nó không bao giờ được tái diễn.  Cộng đồng Hồi Giáo mặc dù tồn tại và đã khôi phục một phần dân số, không bao giờ dành lại được vị thế mạnh mẽ mà nó nắm giữ trước năm 1873.  Thành phố Đai Lý đã từng là kinh đô truyền thống của một vương quốc độc lập, để đối lập với Côn Minh, cứ địa của chính quyền Trung Hoa, đã gần như bị hủy diệt vào lúc có sự chiếm đoạt của đế triều.  Ngày nay hơn phân nửa nội thành nằm bên trong tường thành hãy còn là các bãi trống và các phế tích của các ngôi nhà đầy cỏ mọc; phần lớn tổn hại bị gây ra bởi cuộc động đất to lớn năm 1925, và điều này thuờng là sự giải thích chính thức về các khu vực bị tàn phá, nhưng các cư dân lâu đời hơn biết rõ rằng đó là một sự ngụy biện: các tuyến đường trống vắng đã từng là các khu phố dân cư khi trước vốn được trú ngụ bởi dân theo đạo Hồi, sau khi có sự sụp đổ của thành phố, đã bị cấm không được ở tại đó.

 Chính bản thân người Hồi phải chịu trách nhiệm về sự tổn hại nặng nề đối với các tượng đài kỷ niệm văn hóa của thời quá khứ xa hơn.  Tu viện Phật Giáo vĩ đại được gọi là San T’a Ssu, Tu Viện gồm Ba Ngôi Chùa [Tam Tháp Tự ?]), ngày nay là một đống các phế tích.  Đây không phải là một hậu quả của trận động đất, bởi ba ngôi chùa cổ xưa đã mang lại cho tu viện danh xưng của nó vẫn sống sót qua trận động đất, như chúng đã sống sót qua các thời Hồi Giáo, nhà Minh, và Mông Cổ.  Tại một phòng nhỏ của tu viện cổ xưa sau này được trùng tu đã có nhiều mảnh vỡ của pho tượng Phật bằng đồng to như người thật, nổi tiếng từ lâu như một tác phẩm của thời kỳ Nam Chiếu.  Chỉ phần bán thân phía trên là thoát khỏi sự thù oán của người Hồi đối với nghệ thuật điêu khắc, nhưng mảnh vỡ này cho thấy một thể điệu mang tính chất Ấn Độ rất sâu đậm, với dấu hiệu tương đối ít ỏi của cảm hứng nghệ thuật Trung Hoa trực tiếp.  Đây là, hay đúng hơn đã là, bằng chứng quan trọng nhất cho khuynh hướng Ấn Độ trong nền văn minh của Nam Chiếu được lưu truyền cho đến thời nay.  Có những chỉ dẫn khác của ảnh hưởng ẩn mình này trong văn hóa của Vân Nam hiện đại, đặc biệt trong vùng Đại Lý.  Cho đến các thời kỳ tương đối gần đây, các tấm đá bia mộ khắc lời ghi tặng và lý lịch của người từ trần bằng tiếng Hoa phía mặt trước, tiếng Phạn (Sanskrit) ở mặt sau; một tập tục độc nhất tại Vân Nam, và đặc biệt tiêu biểu cho Đại Lý.  Nhiều ngôi mộ như thế hiện vẫn còn đứng trên sườn ngọn núi bên trên thành phố.

 Dân chúng Đại Lý trang hoàng nhà cửa của họ cũng như các ngôi chùa – và ngay cả các đền thờ [Hồi Giáo] – với một họa kiểu đôi khi khắc chìm, đôi khi tô màu, một quái vật trông giống như con rắn, vốn được tin là vị thần của các trận động đất, được gọi ở địa phương là Ao Yu; ít có sự nghi ngờ nào rằng đó đã là một hình ảnh tượng trưng được biến cải của Naga, thần rắn trong Ấn Độ Giáo.  Chủ đề Naga rất thông dụng trong mọi sự trang trí tại vùng Đại Lý; nơi chân bàn và chân ghế, và rõ nét trong hình thức khăn chùm đầu được mang bởi các thiếu nữ sắc dân Pai (Bạch) ở đồng bằng Đại Lý trước khi kết hôn.  Đây không phải là kiểu mẫu nghệ thuật của Trung Hoa, và gần như chắc chắn là một di tích của văn hóa tiền Trung Hoa của Nam Chiếu ban sơ.

 Các di tích lưu tồn như thế thì ít ỏi; khách du hành tình cờ sẽ ít tìm thấy tại miền tây Vân Nam những gì mà lại không có nguồn gốc Trung Hoa, cho đến khi người đó tiến gần tới biên giới Miến Điện, nơi có cư dân thuộc chủng tộc T’ai (người Shans) hay thị tộc Kachin.  Nhưng rất thường, trong hình thức Trung Hoa của một kiến trúc, một tác phẩm nghệ thuật, hay một nhân tạo phẩm (artifact), hay có ẩn chứa một thành tố phát sinh từ văn hóa cổ xưa hơn tại vùng này.  Một cách khá hiếu kỳ, bất kể sự lưu ngụ lâu dài và sự thống trị ngắn ngủi của họ, thành phần Hồi Giáo trong dân số chỉ sản xuất ra ít bằng cớ rõ ràng về bất kỳ ảnh hưởng văn hóa nào được mang lại cùng với họ từ trung Á Châu.  Cách trang trí hai mầu đen trắng kiểu ả rập được áp dụng tại Đại Lý dưới mái hiên nóc nhà có lẽ gần như là ảnh hưởng nghệ thuật duy nhất phát hiện được.  Sự kiện này cũng thế, chỉ giới hạn vào khu Đại Lý.

 Do vậy, điều khá rõ rệt rằng sự đồng hóa theo Trung Hoa của nền văn hóa  cổ xưa  hơn tại Vân Nam thì gần như là tuyệt đối.  Ký ức về một nền độc lập trước đây thì mơ hồ và chìm khuất nơi người dân thường; mà chỉ được biết như các sự kiện lịch sử, nhưng được nhìn qua sự giáo dục của Trung Hoa, qua văn chương.   Cảm thức dân tộc tính không hiện hữu nơi người dân nay được gọi là các Dân Tộc Ít Người.  Họ hay biết về sự khác biệt của họ với Trung Hoa, nhưng không cảm thấy sự hãnh diện đặc biệt nào, hay sự tự ti nào.  Các người có học của các dân tộc này thì thông thạo Hán tự, nhưng không bao giờ (có lẽ cho đến khi nằm dưới Cộng Hòa Nhân Dân) nỗ lực để nghĩ ra một hệ thống chữ viết của chính họ.  Điều này là sự thực với rất ít ngoại lệ.  Văn chưoơng, đến mức bất kỳ phần nào còn tôn lưu, của Nam Chiếu viết bằng Hán tự, hay có lẽ cả bằng tíếng Phạn (Sanskrit).  Các dân Bạch (Pai) có học thức tại Đại Lý, mặc dù nói ngôn ngữ đàm thoại riêng của họ tại nhà, hoàn toàn không nhận biết gì về các đặc điểm văn phạm cá biệt của họ, và hoàn toàn không quan tâm đến một ngôn ngữ như thế.  Nó chỉ là tiếng nói thông dụng trong nhà và ngoài đồng ruộng, không bao giờ được dùng tại những nơi lịch sự.  Yếu tố xác định vị thế xã hội thời tiền Công sản là giáo dục; một người biết đọc và nói Hán tự ngang hàng với bất kỳ kẻ nào mang dòng máu thuần túy Trung Hoa (nếu trong thực tế có bất kỳ người nào như thế tại Vân Nam) và người không biết đọc là người ở vị thế thấp kém, ngay dù ngôn ngữ mẹ đẻ của người đó là Hoa ngữ.  Nếu người đó chỉ biết nói vai tiếng không phải là Hán tự, người đó trong thực tế được xếp loại là một “man tzu” [? man tử, ND] , có nghĩa một kẻ man rợ, hay có lẽ một cách chính xác hơn, như một “native: thổ dân” theo nghĩa khinh thường của từ ngữ đó.  Một người dân Bạch (Pai) chỉ có thể nói Hoa ngữ rất kém được nghe thấy đã sỉ vả một người chăn dắt súc vật gốc dân Nosu đang cản trở lối đi là “hu tu man tzu” – “một đứa thổ dân ngu si”.  Thái độ thực dân không chỉ bị giới hạn vào các thực dân Âu Châu.

 Song chính sách thực dân của Trung Hoa, bởi đó là điều phải được gọi như thế tại Vân Nam, trong một số đường hướng, có tính cách khai hóa.  Dân chúng được nhìn như được phân chia thành “shu” và “sheng” – đã chín hay còn sống.  Thuần thục trong văn minh Trung Hoa, được chấp nhận hoàn toàn và tuyển dụng chính thức nếu họ đã thụ đắc một nền giáo dục Trung Hoa và ít nhiều thích nghi với các phong tục xã hội Trung Hoa.  Điều kiện sau cùng này đã không được áp dụng một cách quá nghiêm ngặt.  Người Bạch tại Đại Lý có một hệ thống gia đình không mang tính chất Trung Hoa, và được đặt căn bản nặng nhiều về nguồn gốc địa phương tại một làng hơn là vào dòng dõi theo phụ hệ.  Kết hôn ngoại tộc [Exogamy, kết hôn ngoài bộ lạc, ND] không phải là một bộ phận trong hệ thống đó, và nó vẫn còn thường không được để ý tới bởi các người có học thức.  Người Trung Hoa từ các nơi khác của xứ sở nhìn thấy các bia mộ ghi lại sự kết hôn của các gia đình có cùng họ lấy làm ngạc nhiên, nếu không còn  bị chấn động;  nhưng người dân Bạch ở Đại Lý có học thức nhận thấy điều này hoàn toàn bình thường.  Tại một số nơi của Vân Nam, sự đồng hóa không đi đên mức quá xa cho đên nay.  Sắc dân Na Khi sinh sống chung quanh Lichiang [Ly Giang, một khu du lich nổi tiếng ngày nay của Vân Nam, chú của người dịch], một trăm dặm về phía bắc Đại Lý, ở  một khu vực từng có lần nằm dưới ảnh hưởng sâu đậm của Tây Tạng, đã phát triển một hệ thống đơn giản của chữ viết tượng hình (ideograph), hay cách viết bằng hình vẽ, có thể là một sự bắt chước theo Hán tự, nhưng khác biệt.  Nó vẫn còn được dùng trong các bia mộ tưởng niệm hồi cuối thập niên ba mươi [của thế kỷ thứ hai mươi, chú của người dịch], nhưng đang mau chóng mất đi.  Một số bản thảo dài hơn nào đó còn được bảo tồn.  Sắc dân này phải chịu đựng áp lực của việc thay đổi các phong tục xã hội, để thích nghi với luân lý Trung Hoa, ở một thời kỳ rất gần đây.  Sự giao hợp tiền hôn thú trước đây được nhìn nhận và thông thường; dưới ảnh hưởng Trung Hoa, nó trở nên ô nhục và bị kết án.  Hậu quả, tỷ lệ tự tử trong số các thiếu nữ tại Ly Giang lên rất cao, và được liên kết với các thái độ phản kháng lãng mạn.

 Phần tử “còn sống sượng” hay “chưa văn minh” theo cách nói Trung Hoa, phần lớn được để mặc họ.  Rất ít nỗ lực được trù liệu và nhận thấy đã được thực hiện nhằm mang họ vào dưới ảnh hưởng Trung Hoa, chừng nào mà họ còn giữ sự ôn hòa.  Bởi phần lớn các cư dân tại các rặng núi rừng trên cao không thu hút công cuộc định cư người Trung Hoa, sự tiếp xúc chính của họ với dân chúng nông nghiệp là ở các chợ, nơi họ đến để mua vải vóc hay đồ trang sức rẻ tiền và để bán các sản phẩm của rừng, đặc biệt các dược thảo, vốn được xem đáng giá bởi người Trung Hoa.  Bất kể đến sự dung chấp dễ dãi này, rất có thể là các thị tộc “còn sống sượng” này đã cảm thấy bị lãng quên và không có ảnh hưởng gì.  Sự thành công đáng kể, hồi đầu thế kỷ thứ hai mươi, mà các nhà truyền giáo Tin Lành có được trong việc cải đạo số đông người Li Su, một thị tộc miền núi, có lẽ nhiều phần vì cảm giác mà các người dân này đã rút ra từ sự cải đạo; an ninh, ảnh hưởng và sự trợ giúp từ các người bạn quyền thế -- các người ngoại quốc – hơn là từ các niềm tin tôn giáo.  Mặt khác, chính sách của Trung Hoa, mặc dù có vẻ ở tình trạng hôn mê, được dựa trên niềm tin rằng thời gian sẽ đem mọi người dân ở Vân Nam vào trong vòng tay ôm trọn của văn minh Trung Hoa; một thế kỷ theo cách này hay cách kia không thành vấn đề.  Lịch sử đã cho thấy sự đối kháng sẽ tan biến mất, rằng không gì có thể được cống hiến tốt hơn là văn hóa Trung Hoa, và rằng những ai chấp nhận nó sẽ lấy làm hãnh diện về thành quả của mình và không muốn từ bỏ vị thế mới của mình.

 Riêng người Hồi Giáo, trong các thế kỷ gần đây,  đem lại một lựa chọn khác biệt rõ ràng, và vì lý do này, đã bị đãn áp một cách khắc nghiệt hơn các thị tộc “còn sống sượng” bất mãn, các thành phần được ước định đôi khi tỏ ra bướng bỉnh, nhưng không bao giờ là một mối đe dọa cụ thể.  Xem ra có rất ít bằng chứng rằng khảo hướng Trung Hoa căn bản này đã thay đổi dưới chế độ hiện tại.  Ngày nay nó mang nặng tính chất lý thuyết hơn; Các Dân Tộc Ít Người có quyền có văn hóa riêng của mình, và quyền được giáo dục trong đó, nếu đó là việc mà họ mong muốn.  Nhưng họ cũng học tiếng Trung Hoa; họ đã nuôi dưỡng, bất luận trong một cộng đồng phi-Trung Hoa hay tại một cộng đồng hỗn chủng, như các kẻ tuân hành đạo lý Cộng Sản, và theo lời giáo huấn của [Chủ Tịch] Mao Trạch Đông.  Nhiều điều đã được làm cho người dân, không chỉ cho các dân định cư gốc Trung Hoa, nhiều hơn những gì mà chính phủ hoàng triều hay cộng hòa trước gia đã từng dự liệu,nhưng điều này cũng vậy, là một lực đồng hóa, nhằm mang một tỉnh tụt hậu vào dòng chảy trọn vẹn của văn hóa Trung Hoa hiện đại.  Các từ ngữ thô lỗ hay miệt thị được dùng cho người dân phi-Trung Hoa trước đây đã bị bãi bỏ và kết án, ngay khi chúng được dùng theo sự quy định từ lâu và không còn mấy ý nghĩa đối với người Trung Hoa hay phi-Trung Hoa.  Người Min Chia (dịch sát nghĩa “thường dân, dân dã”) của Đại Lý giờ đây sẽ được gọi là dân Bạch (Pai); thế nhưng từ ngữ này trong Hán tự để chỉ sắc dân bản xứ Ber, là tên gọi tắt của Ber Wa Dser, “ “Dân của ông Hoàng Bạch”.  Không có vẻ rằng nhóm chữ này sẽ có thể được gọi trong Hán tự là  Pai Wang Tzu: Bạch Vương Tử;  có lẽ đây là một thành ngữ quá phong kiến và phản động.

 Người Vân Nam, thuộc mọi sắc dân, thường có một thái độ địa phương đặc thù đối với phần còn lại của Trung Hoa: trong khi điều này khó có thể được mệnh danh là “chủ nghĩa dân tộc Vân Nam” bởi nó không có các động lực hay sắc màu chính trị, mà mang tính chất tự hướng tâm rõ ràng.  Mặc dù Vân Nam là một tỉnh biên cương, và rất xa trung tâm của xứ sở, người Vân Nam luôn luôn nói đến các phần đất khác của Trung Hoa là “wai sheng” “ngoại tỉnh: các tỉnh bên ngoài” – một thành ngữ gây ngạc nhiên, chấn động hay làm thích thú lớn lao các du khách đến từ “ngoại tỉnh” chẳng hạn như Bắc Kinh, Thượng Hải hay Quảng Châu.  Nếu một số phong tục khác biệt nhau, và có lẽ phong tục đáng mong ước hơn hiện hữu tại các nơi khác, và đã được đề cập tới, phản ứng thông thường là “chúng tôi không làm như thế này tại Vân Nam”, và hàm ý rằng Vân Nam vì thế siêu việt hơn.  Phần lớn loại chủ nghĩa địa phương này có thể tìm thấy nơi các phần khác của Trung Hoa (nổi bật là Tứ Xuyên), nhưng tại Vân Nam, xem ra có một cảm thức mạnh mẽ về nét đặc thù hơn bất kỳ nơi nào khác.  Điều này có thể giải thích, ít nhất tại Đại Lý, bởi sự tiếp tục áp dụng các phong tục và cung cách không có nguồn gốc Trung Hoa, và được biết có tính cách bản địa của vùng này.

 Như một hệ luận của thái độ đối với “ngoại tỉnh”, đã có một sự nhìn nhận rất khác biệt các người phi-Vân Nam trong một số phương diện như không giống, ngay cả gần như ngoại kiều.  Khi các dân định cư từ Tứ Xuyên đến đông đảo, ngay các địa danh cũng ghi nhận gốc gác ngoại lai của chúng, như tại Pinch’uan, “Khách (đến từ Tứ) Xuyên (Ch’uan)”.  Các người Hồi Giáo không bao giờ được phép quên rằng họ là một sắc dân ngoại lai (Hui Tzu) ngay dù tất cả họ đều nói thổ ngữ địa phưng và ăn mặc theo kiểu Trung Hoa – chỉ khác biệt trong tôn giáo của họ.  Kể từ khi có sự sụp đổ của đế quốc, phương thức đề triều cũ về việc không bao giờ tuyển dụng một người bản xứ vào phục vụ tại tỉnh hạt của chính họ đã rơi vào sự bất áp dụng hoàn toàn.  Các quan chức là người Vân Nam, tổng đốc là người Vân Nam, và nếu ông ta toan tính, không phải lúc nào cũng thành công, để phân phối các người nắm giữ các chức vụ đến các khu vực khác hơn quê quán bản địa của chính họ, ông ta thường nhận thấy điều tiện lợi hơn là nên quên đi cách thức này trong thực tế.  Trong ý nghĩa này, Vân Nam đã phục hồi sự độc lập thực tế từ chính quyền trung ương hơn nó đã được thụ hưởng kể từ khi có sự chinh phục của Mông Cổ.  Trong thời “Chiến Tranh Quân Phiệt: Warlord Era”, 1913-34, người Vân Nam chưa hề nhìn thấy một đội quân từ bên ngoài tỉnh, hay chịu phục tùng một tỉnh trưởng nào không phải là dân bản xứ của họ.  Khi đội quân của chính phủ Nam Kinh, theo sau với một khoảng cách thận trọng cuộc Trường Chinh của các lực lượng Cộng Sản trong các năm 1934-35, xâm nhập vào Vân Nam, họ đã không mấy được chào mừng.  Phe Cộng Sản đã không chiếm các thành phố, hay chiếm cứ đất đai lâu dài; phe Dân Tộc Chủ Nghĩa sẽ làm cả hai việc nếu họ có dư binh sĩ.  Thái độ đối với Cộng Sản chính vì thế là “vừa yêu vừa ghét: ambivalent”; đúng vậy họ là “ngoại tỉnh nhân: wai sheng jen” – các kẻ bên ngoài – nhưng phe Dân Tộc Chủ Nghĩa cũng như thế.  Cũng đúng rằng Cộng Sản là kẻ thù của các địa chủ và tầng lớp quan chức, nhưng các người này đã chạy đi trú náu tại các thành phố nơi không bị chiếm giữ bởi phe Cộng Sản.  Người dân thường ưa thích những gì họ nhìn thấy nơi các kẻ thực hiện cuộc Trường Chinh của Cộng Sản; họ đã trả tiền mua sản phẩm, họ trả tiền công hợp lý cho phu khuân vác, và trở ngại duy nhất với họ rằng họ đã đi quá xa và quá nhanh đến nỗi phu khuân vác Vân Nam chuyên nghiệp nhận thấy đó là một kinh nghiệm cam go.  Khi cuộc xâm lăng của Nhật Bản bắt đầu, các lực lượng của Vân Nam có góp phần vào công cuộc phòng thủ quốc gia.  Các sư đoàn ra tiền tuyến đã được đưa tiễn nồng hậu với các bữa tiệc khoản đãi và quà tặng; mọi người thực sự khá vui mừng khi thấy họ ra đi, các người lính ra đi đến “ngoại tính được tuyển dụng tốt, và tốt hơn so với việc ở lại nhà.  Không ai kỳ vọng một cách nghiêm chỉnh rằng nhiều người , nếu có, sẽ quay trở lại bao giờ.

 Vân Nam giờ đây được kết hợp như một tỉnh của Cộng Hòa Nhân Dân [Trung Quốc], nhưng đã có không ít chỉ dẫn trong diễn tiến Cuộc Cách mạng Văn Hóa rằng chủ nghĩa đặc thù cũ đã không chết.  Nó có lẽ sẽ còn tồn tại trong rất nhiều năm, bởi ngay các sự giao thông được cải tiến hiện nay vẫn để lại phần đất này ở nơi xa xôi, tương đối khó tiếp cận, và rất xa trung tâm quyền lực.  Song điều không kém chắc chắn rằng tiến trình sáp nhập vào quốc gia và dân tộc Trung Hoa giờ đây đã hoàn tất trong ý nghĩa chính trị, và gần như thông suốt trong khía cạnh văn hóa.   Vân Nam chính vì thế đưa ra một lịch sử về sự bành trướng của Trung Hoa từ những khởi sự ban đầu với các quan hệ giữa một triều đình xa xôi và các nhà lãnh đạo man rợ địa phương, xuyên qua một thời kỳ truyền bá văn hóa đồng thời với sự khước từ chính trị, và sau đó xuyên qua các giai đoạn liên tiếp nhau của sự chinh phục, chiếm đóng và đồng hóa.  Cùng tiến trình, hay biến cố tương tự đã đánh dấu một cách vững chắc sự sáp nhập của Trung Hoa vùng Quảng Đông và tỉnh vùng duyên hải đông nam là Phúc Kiến: ở một thời kỳ sớm hơn, người ta hãy còn nhận thấy một cách mờ nhạt các biến cố rất tương đồng và một diễn tiến tương tự trong sự sáp nhập thung lũng sông Dương Tử.  Vân Nam là bước cuối cùng trong một chuỗi hoạt cảnh lâu dài.

 Vấn đê khi đó phải được nêu lên: đó có phải là cảnh cuối, hay chỉ là cảnh mới nhất?  Lịch sử phong trào nam tiến của Trung Hoa cả về mặt chính trị lẫn văn hóa đã sẵn diễn ra liên tục trong hơn hai nghìn năm, có lẽ gần ba nghìn năm, không thể bị giả định rằng đã đến hồi kết cuộc cho mọi thời đại, chỉ bởi vì các cấu hình chính trị hiện nay không có vẻ tán trợ cho sự tiếp tục của nó.  Quyền lực Nam Chiếu đã diễn ra trong một thời kỳ lâu dài hẳn đã có vẻ mang sự tiến bước của Trung Hoa đến hồi kết cuộc, tiếp theo sau, như đã xảy ra, bởi sự cự tuyệt của nhà Tống đối với một chính sách bành trướng.  Tuy nhiên, tiến trình đã được tái diễn và đã đi lên đến tột đỉnh trong vòng năm thế kỷ, sau khi có sự sụp đổ của Nam Chiếu.  Ngày nay viễn ảnh xem ra không kém bất lợi hơn so với viễn ảnh đối diện với vị hoàng đế đầu tiên của nhà Tống hồi cuối thế kỷ thứ mười.  Miến Điện là một quốc gia có chủ nghĩa dân tộc đầy khí lực, và có dân số rất hợp lý.  Đây không là vùng đất trống dành cho các kẻ đến định cư.  Việt Nam trong nhiều thế kỷ đã biểu lộ ý muốn của nó để tiếp nhận văn hóa Trung Hoa và sự khước từ không kém cương quyết của nó đối với sự cai trị của Trung Hoa.  Không điểm nào ngày nay cho thấy mô thức đáp ứng này bị thay đổi.  Ngay dù nếu một vài nước khác của Đông Nam Á có thể tiếp cận với Trung Hoa trên đất liền, chỉ xảy ra sau khi nỗ lực đáng kể được chi tiêu cho các sự cải tiến giao thông, trong thực tế chúng đều có thể được tiếp xúc gần cận hơn bằng đường biển.  Thái Lan, Căm Bốt và ngay cả Lào đã không thu nhận di dân Trung Hoa bằng đường bộ, mà bằng đường biển.  Nhập lượng người Hoa vào các xứ sở này vì thế không phải là phần trong sự bành trướng của Trung Hoa trên đất liền.

 Do đó, rất có thể rằng sự bành trướng trên đất liền đã vươn tới giới hạn tự nhiên của nó, nơi mà các dân tộc khác có nền văn minh tiền tiến đã sẵn tự thiết định, và không thể bị đồng hóa hay trục xuất.  Trong thời hiện đại, sự bành trướng bằng đường biển có thể vừa dễ dàng hơn trong sự vận chuyển các người định cư và khách du lịch, và vừa hiệu quả hơn vào giai đoạn của sự kiểm soát chính trị có thể tiếp theo sau.  Nhưng các điều kiện này chỉ có thể được hoàn thành nếu người Trung Hoa trong tương lai chuyển hướng tư tưởng và năng lực của họ sang việc thống trị biển cả, một điều gì đó họ rất hiếm khi thử làm trong quá khứ.  Tuy nhiên, quyền lực họ đã từng phát triển trong nỗ lực ngắn ngủi theo chiều hướng này mà họ đã thực hiện hồi đầu thế kỷ thứ mười lăm hiện ra như một đèn báo hiệu cho những gì có thể thành đạt được, một khi tham vọng này được thiết định thành chính sách nhà nước./-

 ___

 * Có lẽ thí dụ đích thực sau cùng là cuộc vây hãm Bắc Kinh trong sáu tuần lễ hồi Tháng Mười Hai 1948 và Tháng Một 1949 bởi Quân Đội Nhân Dân Giải Phóng của Cộng sản.  Vào lúc đó, thành phố Bắc Kinh hoàn toàn nằm bên trong các bức tường thành cổ xưa của nó.



 SỰ BÀNH TRƯỚNG CỦA TRUNG HOA TRÊN ĐẤT LIỀN: 
TRƯỜNG HỢP VIỆT NAM

Nguồn: C. P. FitzGerald, The Southern Expansion of the Chinese People, 
New York & Washington: Preager Publishers, 1972. (Chapter Two: Chinese Expansion By Land: Vietnam, các trang 19-38,)

Việt Nam là xứ sở mở rộng cửa nhất cho sự bành trướng và chiếm đóng trên đất liền bởi người Trung Hoa.  Biên cương, mặc dù chạy dọc theo một rặng núi, lại cung cấp nhiều hơn một cửa ải khả dĩ tiếp cận đuợc, và bờ biển chỉ là một sự nối dài của bờ biển thuộc tỉnh Quảng Đông, miền nam nước Trung Hoa.  Châu thổ sông Hồng, trung tâm của Bắc Việt, cũng là đồng bằng phì nhiêu to lớn nhất và tốt nhất ở phía nam cửa sông Dương Tử.  Mọi tình huống xem ra đã phán định rằng xứ sở lân cận này sẽ trở nên, và tồn tại, như một phần của thế giới Trung Hoa, và một phần liên hợp của quốc gia Trung Hoa.  Trong nhiều thế kỷ điều này được xem như sẽ là số phận của nó, và đã là một chuyện có thực.  Việt Nam đã là một tỉnh của Trung Hoa từ năm 111 trước Công Nguyên cho đến năm 939, trong hơn một nghìn năm.  Trong nghìn năm kế tiếp, từ năm 939 cho đến ngày nay, người Việt Nam, đã dành đạt được nền độc lập của họ, đã có thể duy trì sự tự chủ này với các sự gián đoạn ngắn ngủi – một cuộc tái chinh phục của Trung Hoa từ 1407 đến 1427, và sự cai trị của Pháp từ cuối thế kỷ thứ mười chin cho đến năm 1946.  Các nguyên do tại sao một diễn tiến lịch sử hiển nhiên đã bị đảo ngược đáng được khảo sát một cách kỹ lưỡng, bởi chúng soi sáng vào bản chất thực sự của sự tiếp xúc và bành trướng của Trung Hoa vào vùng đất biên cương phía nam.

Trước tiên cần phải nhận định rằng phần của Việt Nam trước đây lệ thuộc sự cai trị của Trung hoa chỉ vào khoảng một phần ba xứ sở hiện nay, đồng bằng châu thổ sông Hồng và bình nguyên duyên hải chạy dọc theo bờ biển của vịnh Bắc Việt [hay vịnh Đông Kinh: Gulf of Tongking trong nguyên bản, chú của người dịch].  Phần giờ đây là Trung Việt, và trước ngày độc lập được gọi bởi chính quyền thực dân Pháp như xứ bảo hộ An Nam, chưa có một thời kỳ lâu dài nào nằm dưới sự cai trị của Trung Hoa, và khi đó là phần đất phía bắc của vương quốc Chàm.  Miền nam Việt Nam đã là một phần của lãnh thổ Chàm, và xa hơn về phía nam, là đất của Căm Bốt.  Các tên gọi ngày nay phần lớn phát sinh từ thuật ngữ được dùng dưới chế độ Pháp và không tương ứng hoặc là với các danh xưng trong tiếng Việt hay gần sát với các khu vực lịch sử.  “Đông-Kinh: Tongking” là cách gọi của người Pháp, rút ra từ danh xưng một cố đô, ngày nay là thành phố Hà Nôi, được biết trong cách nói thông dụng là Tong King: Đông Kinh (Hoa ngữ viết là Tung Ching), có nghĩa Kinh Đô Phía Đông.  An Nam, từ Hoa ngữ là An Nan, là một danh xưng được đặt cho miền bắc dưới sự cai trị của Trung Hoa thời nhà Đường, và có nghĩa “Phía Nam đã được bình định: Pacified Sooth.”  Cochinchina, được dùng để chỉ phía nam của phần ngày nay là Nam Việt Nam, là một từ ngữ do ngoại quốc đặt ra, có lẽ là có nguồn gốc từ ngôn ngữ Bồ Đào Nha.  Nó không phải là tiếng Việt.  Chính danh xưng “Việt Nam” là cách phát âm theo tiếng Việt các từ ngữ Trung Hoa Yueh Nan có nghĩa “Việt phương nam: Yeuh South,” đất Việt phía nam, đê” phân biệt nó với các vương quốc và khu vực Việt khác nằm dọc theo bở biển phía đông nam của Trung Hoa.  Những phần đất này đã được bao gồm trong thời cổ vào nước Việt (Yueh Quốc) nay thuộc tỉnh Triết Giang, nằm sát phía nam của châu thổ song Dương Tử; Mân Việt (Min Yueh), nay là tỉnh Phúc Kiến, và Nam Việt (Nan Yueh hay Việt phương Nam), bao gồm tỉnh Quảng Đông và một phần tỉnh Quảng Tây với vùng châu thổ sông Hồng thuộc Bắc Việt ngày nay.  Khu vực sau cùng này, là phần cực nam của Nam Việt, được goi là Việt Nam (Yueh Nan), “Việt phương Nam.”

Dân Việt chính vì thế từ thủa xa xưa đã dàn trải sâu rộng, dọc theo bờ biển phía đông của Á Châu, và có thể một trong những nhánh của họ đã là một thành phần cấu thành dân Nhật Bản sau này.  Sự chinh phục của Trung Hoa, từ thế kỷ thứ ba trước Công Nguyên trở về sau này, đã dần dà thu hút dân Việt phương bắc, cho tới năm 111 trước Công Nguyên, Hán Vũ Đế đã chính phục vương quốc Nam Việt (Nan Yueh) to lớn ở phía nam, và từ đó, chiếm giữ vùng châu thổ sông Hồng.  Trước đó, Tần Thủy Hoàng Đế , kẻ thống nhất nước Trung Hoa, đã tấn công Nam Việt và cưỡng bách Nam Việt nhìn nhận quyền chủ tể của ông ta.  Nhưng vào lúc có sự sụp đổ của đế quốc nhà Tần ngắn ngủi trong năm 203, Nam Việt đã khôi phục nền độc lập của mình cho đến khi sau rốt bị chinh phục bởi Hán Vũ Đế một thế kỷ sau đó.  Ngay từ trong thời tiếp xúc đầu tiên này, một sự kiện đã xuất hiện: khi Trung Hoa ở dưới một chế độ cai trị thống nhất và hùng mạnh, sự độc lập của bất kỳ phần đất nào trong lãnh thổ nước Việt cũ sẽ bị nguy hiểm, hay mất đi.  Khi Trung Hoa bị chia trí bởi các khó khăn nội bộ, người Việt đã khôi phục sự độc lập, và duy trì nó cho đến khi lại bị chinh phục một lần nữa bởi vũ lực.  Không giống như các tỉnh nội vi của Trung Hoa, vùng đất Việt đã chiến đấu chống lại sự sáp nhập vào các đế quốc mới và không sẵn lòng khuất phục trước quyền lực trung ương mới, như các tỉnh của Trung Hoa vẫn thường làm.

Là một dân tộc đi biển, người Việt cổ xưa luôn luôn tạo dựng các khu định cư của họ trên các mảnh đất phì nhiêu nơi các châu thổ và cửa sông mang lại các khu vực khả dĩ canh tác duy nhất tại các tỉnh đồi núi phía đông nam sát biển của Trung Hoa.  Chính vì thế, vương quốc Việt đầu tiên đã tập trung tại cửa sông Tiền Đường, quanh vịnh Hàng Châu trong tỉnh Triết Giang ngày nay; Mân Việt, tại Phúc Kiến, đặt nền móng trên vùng đất phì nhiêu ở cửa sông Mân, tại Phúc Châu; Nam Việt chiếm cứ châu thổ sông Tây Giang, tại Quảng Đông, và sau đó tràn xuống phía nam để sáp nhập và định cư tại châu thổ sông Hồng, miền Bắc Việt Nam ngày nay.  Bốn vùng cửa sông và châu thổ này là phần đất canh tác tốt nhất  và là các khu vực rộng lớn nhất thích hợp với việc trồng lúa tại bờ biển đông nam.  Đồng bằng thứ năm, châu thổ sông Cửu Long, sau hết sẽ là khu định cư to lớn cuối cùng của dân Việt, và tạo thành vùng đất trọng tâm ngày nay của Nam Việt Nam.  Các vùng đất phì nhiêu có nghĩa có sự định cư mau lẹ và tương đối đông đúc: trong khi nam tiến tại nội địa Trung Hoa, các di dân Trung Hoa phương bắc chỉ tìm thấy một dân số nhỏ dọc theo các thung lũng khá chật hẹp của các phụ lưu sông Dương Tử, một dân số dễ dàng bị nuốt chửng hơn bởi các di dân, dọc theo bờ biển, họ gặp phải các khu định cư của dân Việt đông đảo và chiếm giữ các phần đất cô đọng có khả năng cho một sự kháng cự có tổ chức.  Nước Việt cổ thời tại Triết Giang hầu như tự mình hủy diệt, và làm dân tộc của mình yếu đi bởi các cuộc xâm lăng không ngừng vào các nước láng giềng, cho đến khi dân số của nó thực sự bị tiêu hao đi.  Hán Vũ Đế đã áp dụng thủ đoạn di chuyển cưỡng bách trên quy mô rất lớn sô dân bị chinh phục khi ông ta chiếm cứ Mân Việt tại Phúc Kiến, cho họ tái định cư tại miền trung Trung Hoa.  Nam Việt, tại Quảng Đông, quê hương của “các người nói tiếng Quảng Đông” duy trì cho đến ngày nay tính chất khác biệt và thái độ không nguôi ngoai đối với sự cai trị của phương bắc, lúc nào cũng tạo thành một vùng gây nhiều khó khăn cho chính quyền trung ương tại Trung Hoa, bất kể đến hình thức hay tính chất nào đi nữa.

Tiếng Quảng Đông, và cũng như thổ ngữ của Phúc Châu (Hokkiu) hay các thổ ngữ khác dọc duyên hải đông nam thì khác biệt một cách rõ rệt với lối nói Trung Hoa tiêu chuẩn ở bất kỳ biến thể nào tìm thấy trong Hoa ngữ.  Một phần, sự khác biệt này tượng trưng cho các hình thức cổ xưa hơn của Hoa ngữ tiêu chuẩn, được áp đặt trên một sắc dân không nói tiếng Trung Hoa trong quá khứ, và như thường xảy ra, giữ lại trong các tình huống này một đặc tính nguyên thủy mà mạch chính của ngôn ngữ đã để lại phía sau.  Điều có thể nhận thấy là tiếng Quảng Đông ngày nay gần gụi với ngôn ngữ nói Trung Hoa tiêu chuẩn của thời nhà Đường (thế kỷ 7 đến 10, sau Công Nguyên) là thời kỳ trong đó có xảy ra cuộc nhập cư lớn lao của người Trung Hoa phương bắc đến Quảng Đông.  Thổ ngữ Phúc Châu được nghĩ là gần với tiếng nói tiêu chuẩn của thời nhà Hán, khi theo sau chính sách di cư của Hán Vũ Đế, nhiều người Trung Hoa phương bắc đã di chuyển vào khu vực sông Mân.  Người ta có thể so sánh với  âm sắc Anh ngữ thế kỷ thứ mười tám như được phát ngôn bởi dân da đen tại vùng West Indies, các sự khác biệt chỉ là thời khoảng trải qua dài hơn nhiều đối với các khu định cư của người Trung Hoa tại miền đông nam.  Nằm dưới đặc thù ngữ học này là yếu tố chủng tộc; thành phần chính của dân chúng tại Quảng Đông, và cũng như ở Phúc Kiến, là một chủng tộc nguyên thủy không phải là người Trung Hoa, mà phần lớn là người Việt.  Ngay trong các biên cương của đế quốc như được ấn định trên các ranh giới tồn tại lâu dài bởi Hán Vũ Đế hồi cuối thế kỷ thứ nhì trược Công Nguyên, sự xâm nhập của Trung Hoa phần rất lớn chỉ là sự áp đặt một nền văn hóa và một văn minh đã phát tirển hơn trên người dân không phải là Trung Hoa.

Chính sự kiện này đã giúp giải thích đặc điểm và cá tính cách biệt liên tục của người Việt Nam.  Việt Nam, và từ ngữ này khi đó chỉ có nghĩa chỉ vùng châu thổ sông Hồng, là giới hạn cùng cực của đế quốc Trung Hoa, “Việt ở phương Nam: Yueh South”, nơi mà sự cai trị của Trung Hoa không có nghĩa là sự nhập cư của người Trung Hoa từ phương bắc, mà mang ý nghĩa một chính quyền của ngoại nhân gồm các quan chức Trung Hoa từ phương bắc.  Đã sẵn có hàng nghìn nông dân canh tác trên đất đai, và cung cấp khỏan thuế thâu cho chính quyền Trung Hoa.  Không có nhu cầu phải mang các số lượng lớn các nông dân di cư Trung Hoa, và đã có đầy đất đai gần nơi ở của các nông dân như thế hơn, đang chờ đợi để được định cư tại thung lũng sông Dương Tử và các phụ lưu của nó.  Người Trung Hoa tìm thấy nơi dân Việt một dân tộc gồm các nông dân trồng lúa gao, giống như các nông dân của chính Trung Hoa; tương đối cũng dễ dàng áp đặt sự cai trị của Trung Hoa trên họ, và sau đó thiết lập các định chế tương tự trong hầu hết các khía cạnh như các định chế của Trung Hoa.  Điều này đã xảy ra; văn hóa Việt Nam mang đậm màu sắc Trung Hoa, nhưng đặc tính chủng tộc của người dân vẫn tiếp tục là “Yueh”, tức là “Việt”, và họ đã kế thừa và ấp ủ ý thức về sự khác biệt chủng tộc đó cùng khát khao một quốc gia riêng biệt trong đó một hình thức biến cải đã luôn luôn biểu thị đặc tính cho các người anh em bị đồng hóa hơn của họ, các người nói tiếng Quảng Đông.

Ngay tầng lớp cai tri Trung Hoa vẫn còn ít về số lương; điều được nhận thấy rằng sẽ có lợi hơn cho quyền lực đế quốc khi cho phép các thủ lĩnh bản xứ của các thị tộc và các quận huyện [Việt] trở thành các địa chủ theo cung cách nhà Hán và thiết lập tại tỉnh xa xôi mối quan hệ  điền chủ - tá điền  và hệ thống chiếm hữu đất đai thay thế cho chế đố phong kiến thực thụ trước đây của Trung Hoa thời tiền đế quốc.  Được giáo dục, và được khuyến khích để chấp nhận các phong tục và các cách suy nghi của Trung Hoa, tầng lớp này có thể được tưởng thưởng bằng việc làm trong ngạch chức dịch của triều đình, và đổi lại sự cai trị của Trung Hoa đạt được sự sở hữu của mình trên phần đã từng là các vùng đất công của các thị tộc.  Một đặc điểm của lịch sử ban đầu của Việt Nam là các cuộc nổi dậy chống lại sự cai trị của Trung Hoa đã được lãnh đạo không phải bởi tầng lớp quý tộc tiểu địa chủ [sic], mà là bởi các nông dân.  Một đặc điểm khác không có mang tính chất Trung Hoa, nhưng phù hợp với phong tục Việt Nam, rằng một số trong các nhà lãnh đạo này phải là phụ nữ.  Các sự kiện này làm liên tưởng đến một sự cách biệt kéo dài giữa tầng lớp quý tộc tiểu địa chủ bị Hán hóa với giới nông dân là các kẻ, bị thất học, nên ít thụ nhận ảnh hưởng văn hóa Trung Hoa hơn.  Nếu sự áp đặt sự cai trị và văn hóa Trung Hoa trên người dân Quảng Đông, sau hơn hai nghìn năm, vẫn còn để lại trên sắc dân này nhiều tính chất đặc biệt và một sự khó chịu dai dẳng đối với sự thống trị của phương bắc, không mấy khó khăn để nhận thấy rằng cá tính dân tộc của người Việt Nam lại còn nổi bật một cách mạnh mẽ hơn nữa.  “Quảng Đông là của người Quảng Đông” đã là một khẩu hiệu phổ biến trong thời kỳ đầu của nền Cộng Hòa [Trung Hoa]; các người phương bắc đôi khi đã kinh ngạc tự hỏi là liệu nó đã không thực sự có nghĩa rằng “Trung Hoa là của người Quảng Đông hay sao”.  Tại Việt Nam một nghìn năm thống trị của người Trung Hoa cũng không thể xóa bỏ cảm thức “Việt Nam là của người Việt Nam” như  thế -- mặc dù ở vị thế xa xôi của một tỉnh cũ, trong khi điều này giúp cho khát vọng này trở nên khả thi hơn, không cách nào có thể khơi dậy bất kỳ kỳ vọng nào về sự chế ngự của Việt Nam đối với chính quyền trung ương của chính đế quốc.

Thế kỷ đầu tiên của sự cai trị của Trung Hoa không ghi nhận bất kỳ cuộc nổi dậy quan trọng nào bởi dân chúng Việt Nam; Trung Hoa vẫn ở dưới một chế độ cai trị mạnh của nhà Tiền Hán, và mãi cho đến các năm đầu tiên của thế kỷ thứ nhất sau Công Nguyên, các khó khăn nội bộ mới làm rung chuyển quyền lực đó.  Giữa năm thứ 9 và 23, ngôi vua bị tiếm đoạt bởi Vương Mãng (Wang Mang), và sau khi ông ta sụp đổ, Trung Hoa trong nhiều năm đã bị xáo trộn bởi cuộc nổi loạn của phong trào nông dân Hồng Mi (Red Eyebrows) và các cuộc nội chiến giữa các kẻ khát khao ngai vàng.  Nhà Hậu Hán, được thành lập bởi vị hoàng tử bàng hệ có vương hiêu trị vì là Hoàng Đế Quang Vũ (Kuang Wu), đã không củng cố được quyền lực trong một thập niên, và chính ở thời điểm này mà người Việt Nam đã vươn lên trong cuộc nổi dậy quan trọng đầu tiên của ho/.  Trong năm 39, hai chị em, bà Trưng Trắc và Trưng Nhị, là thành viên của một gia đình lạc tướng, đã nổi dậy trong một cuộc khởi nghĩa và duy trì sự kháng cự của họ trong mười năm.  Sự đàn áp cuộc nổi dậy này trùng hợp rất khắng  khít với sự củng cố quyền lực của triều đại Hậu Hán vừa mới được phục hưng và được thi hành bởi một trong các viên tướng hàng đầu của tân Hoàng Đế Quang Vũ.  Chị em bà Trưng, cho dù bị thất bại, vẫn là các nữ anh hùng đối với người dân Việt Nam.  Họ có dựng đền thờ Hai Bà ở Hà Nội, và hãy còn được tôn kính như các nhà ái quốc.  Chu Ân Lai, Thủ Tướng Cộng Sản Trung Hoa, đà làm một cử chỉ khéo léo khi quỳ gôi trước bàn thờ Hai Bà lúc ông ta mở một cuộc thăm viếng cấp quốc gia ở Bắc Việt.  Ký ức được lưu giữ lâu đời tại Á Châu.

Sự trùng hợp giữa các thời kỳ suy yếu của Trung Hoa và các cuộc nổi dậy của Việt Nam chống lại sự thống trị của Trung Hoa có thể được quan sát liên tục tiếp diễn cho đến lúc có sự chấm dứt sự cai trị trực tiếp của Trung Hoa.  Trong năm 192, một cuộc nổi dậy với tầm mức rộng lớn khác đã làm rung động thẩm quyền của Trung Hoa, và chỉ ba năm trước đó, trong năm 189, đế quốc nhà Hán, với sự băng hà của Hoàng Đế Ling [?], đã bước vào thời kỳ xáo trộn chung cuộc của nó với nội chiến và tình trạng rối loạn căng thẳng còn gia tăng bởi một cuộc nổi dậy lớn lao khác của nông dân, phong trào Khăn Vàng (Yellow Turbans).  Cuộc nổi dậy năm 192 có vẻ không mang tính chất chủ yếu là Việt Nam, mà đúng hơn là một đợt bộc phát đầu tiên của người Chàm, các kẻ đã thiết lập vương quốc mới của họ tại vùng đã là khụ vực vươn xa xuống cực nam của tỉnh hạt thuộc Trung Hoa, bộ chỉ huy ở Nhật Nam (Jihnan) (Phía Nam của Mặt Trời), tương ứng với đồng bằng duyên hải nằm giữa Đà Năng và “Cửa Ải An Nam:  Annam Gate” (Porte d’Annam) ngày nay, gần đường giới tuyến hiện tại giữa Bắc và Nam Việt Nam.  Khu vực này đã bị mất về tay Trung Hoa.  Đến năm 222, Trung Hoa bị chia cắt thành Tam Quốc, và chính nước Ngô (Wu), quốc gia phía đông nam, đã thừa kế thẩm quyền Trung Hoa tại châu thổ sông Hồng.  Mặc dù Trung Hoa vẫn xác lập chủ quyền trên Nhật Nam, không có bằng có cho thấy bất kỳ thẩm quyền thực sự nào đã được tái lập sâu vê phía nam đến thế.  Xứ Chàm trong thực tế có gửi các sứ đoàn đến triều đình nhà Ngô trong năm 230, nhưng trong năm 248 một lần nữa đã tấn công tỉnh của Trung Hoa ở phía bắc và sau khi dành đạt một chiến thắng đáng kể, đã giữ lại khu vực ở sông Gianh [ghi là sông Giang (sic) trong nguyên bản, ND], phía nam châu thổ sông Hồng.  Sự suy yếu và phân hóa của Trung Hoa đã là các nguyên do chính của các cuộc xâm lăng này của người Chàm.  Trong năm 277, Tam Quốc được thống nhất ngắn ngủi bởi một triều đại mới, nhà Tấn (Tsin), thế nhưng chế độ này đã làm mất miền bắc Trung Hoa trước các cuộc xâm nhập của người Thát Đát (Tatar)vào năm 316, và từ đó chỉ cai trị miền nam không thôi.

Trong hai trăm năm kế đó, dưới thời nhà Nam Tấn và các triều kế thừa ở miền nam Trung Hoa, người Việt Nam đã không nổi dậy.  Có thể rằng mối đe dọa mới đặt ra bởi quyền lực của nước Chàm là một lý do tại sao người Việt Nam lựa chọn sự cai trị của Trung Hoa hơn là các sự mạo hiểm của cuộc nổi dậy, sẽ mang đến cho người Chàm một cơ hội để xâm lăng hơn nữa.  Mãi đến năm 543, cuộc nổi dậy của gia tộc họ Lý, với nhà lãnh đạo Lý Bôn, đã thành lập triều đại Việt Nam độc lập đầu tiên, nhà Tiền Lý, đã tạm thời mang sự cai trị của Trung Hoa tại Việt Nam đến chỗ kết thúc.  Vào lúc đó, nhà Lương (Liang) bên Trung Hoa đã tiến tới hồi chung cuộc của mình, và sự rối loạn và suy yếu đã sớm lật đổ chế độ và thay thế bằng nhà Ch’en (557-89), một triều đại ngắn ngủi và yếu ớt, không có khả năng kiểm soát phần lớn miền nam Trung Hoa, và chính vì thế, không thể tái thiết lập quyền lực của Trung Hoa tại Việt Nam.  Khi vào năm 589, nhà Tùy (Sui) tái thống nhất đế quốc và chấm dứt sự phân chia kéo dài giữa các triều đại người Thát Đát ở phương bắc và các triều đại Trung Hoa ở phương nam, không lâu sau đó họ đã xâm lăng Việt Nam và tái áp đặt sự thống trị của Trung Hoa.  Sớm bị thay thế (618) bởi triều đại nhà Đường (Tang) vĩ đại, cuộc tái chinh phục của nhà Tùy này đã được duy trì.  Các cuộc nổi dậy, trong đó có một cuộc khởi nghĩa quan trọng vào năm 722, đã bị trấn áp, và nhu cầu đối với nhà Đường nhằm duy trì một quân đội lớn lao trong nước để phòng thủ biên cương sát vương quốc Vân Nam đang vươn lên tại Nam Chiếu, đã khiến cho nền độc lập của Việt Nam không đạt tới được.  Nhà Đường, sau cuộc chinh phục, đã đổi tên nước là An Nan (có nghĩa An Nam), “Miền Nam đã được bình định: Pacified South”.

Trong hai trăm năm mươi năm sự cai trị của nhà Đường tại An nam không bị thách đố, và thời kỳ dài này trong đó xứ sở nằm dưới chính quyền Trung Hoa, một chính quyền được tổ chức chặt chẽ đến mức chưa hề có trước đây, và triều đại trị vì này lại được hỗ trợ bởi điều có lẽ là thời đại tuyệt diệu nhất của văn hóa Trung Hoa, đã tạo ra một ấn tượng sâu đậm trên người dân Việt Nam.  Nó đã không, như các biến cố diễn ra cho thấy, khuyến dụ họ bỏ qua khát vọng của mình là độc lập với Trung Hoa trong các vấn đề chính trị, nhưng nó đã tạo ra văn hóa Việt Nam trong khuôn mẫu Trung Hoa và vẫn còn ở trong khuôn mẫu đó kể từ lúc ấy.  Giới thẩm quyền Trung Hoa trước đó đã khởi sự công việc này, thời đại nhà Đường đã hoàn tất nó.  Khi Việt Nam trở thành độc lập, Việt Nam cho thấy không có y muốn phủ nhận di sản văn hóa mà nước này đã thụ đắc từ nhà Đường.

Trong năm 868 quân đội Trung Hoa tại Việt Nam, trú đóng nơi biên giới với vương quốc Nam Chiếu (giờ đây là biên giới bị đổi ngược giữa Trung Hoa và Bắc Việt Nam) nổi loạn.  Đội quân này đã không được trả lương từ lâu, và triều đình xa xôi bị đắm chìm vào tình trạng vô khả năng và lệ thuộc vào các viên chỉ huy quân sự cấp tỉnh.  Các kẻ nổi loạn đã quay về quê tại Trung Hoa và khởi động một chuỗi nội chiến và nổi dậy đi đến việc kết liễu triều đại nhà Đường trong vòng chưa đến bốn mươi năm.  Trung Hoa khi đó bị tan vỡ thành một số các quốc gia tranh liệt và riêng biệt, tất cả đều tuyên bố nắm trọn đế quốc, nhưng phần lớn chỉ kiểm soát một hay hai tỉnh, hay ngay khi chỉ có một tỉnh.  Chính trong tình trạng hỗn mang của sự xáo trộn này mà dân Việt Nam, noi theo khuôn mầu chung, đã nổi dậy và thành lập vương quốc riêng biệt của chính họ, vào năm 934.

Nhà Đinh, giờ đây đã nắm giữ quyền bính tại Việt Nam, đã là triều đại đầu tiên trong một chuỗi các triều đại duy trì nền độc lập của xứ sở cho đến khi có sự chinh phục của người Pháp trong thế kỷ thứ mười chín, với một khoảng đứt đọan ngắn hồi đầu thế kỷ thứ mười lăm.  Từ sự chấm dứt sự cai trị của Trung Hoa trong thế kỷ thứ mười, Việt Nam trong thực tế đã tự mình điều hành đất nước, cho dù một sự thừa nhận cẩn trọng quyền chủ tể của Trung Hoa có được đưa ra bởi tất cả các triều đại Việt Nam.  Trong thực tế, điều này có ý nghĩa rất ít; các tặng phẩm quý giá được trao như các cống phẩm, và các sứ giả đã nhận lại được các tặng phẩm còn xa hoa hơn để phô bày quyền lực và sự hào phóng của Hoàng Đế Trung Hoa.  Các nhà vua Việt Nam đã tìm kiếm và nhận được sự phê chuẩn sự lên ngôi của họ từ vị chủ tể của họ. Người Việt Nam chấp nhận dùng lịch theo triều đại Trung Hoa trị vì, một hành vi có vài ý nghĩa tôn giáo, và trong một vài cung cách có thể so sánh với việc treo cờ Anh Quốc (Union Jack) trong một số dịp bởi các thành viên tự cai trị và độc lập thực sự trong Khối Thịnh Vượng Chung Anh Quốc.  Trung Hoa đã không đảm nhận trách vụ bảo vệ Việt Nam, dù là để chống lại các kẻ thù ngoại lai, hay để giúp cho triều đại trị vì đập tan sự nổi dậy trong nội bộ.  Việt Nam cũng không có nghĩa vụ phải trợ giúp quân sự cho các cuộc chiến tranh của Trung Hoa.  Điều được thông hiểu là quốc gia triều cống không được xúc tiến các ý đồ hay cung cấp sự trợ giúp cho một kẻ thù của vị Hoàng Đế, và điều này cũng áp dụng cho các cá nhân riêng tư cũng như cho các nước ngoài.

Thỏa ước (Modus Vivendi) này đã không được đạt tới một cách tức thì: khi các sự xáo trộn tiếp diễn theo sau sự sụp đổ của triều đình nhà Đường bị kết thúc bởi sự đăng quang của triều đại mới, nhà Tống, năm 960, một ít năm đã trôi qua trước khi tân đế quốc được hoàn toàn củng cố bởi chính sách khéo léo của kẻ sáng lập triều đại.  Các quốc gia phương nam nơi mà đế quốc bị giải tán đã lần lượt được khuyến dụ quay về “trung thành thực sự” hay sẽ bị trấn áp, thường với sự kháng cự rất yếu, nếu chúng còn ngoan cố.  Cho đến mức công tác này đã được hoàn tất, không có gì thắc mắc về sự can thiệp của nhà Tống tại Việt Nam.  Vào năm 981 nhà Tống đã trở nên hoàn toàn được chấp nhận và thiết định.  Một cuộc viễn chinh khi đó được phóng ra để giải trừ “vương quốc chống đối” phương nam duy nhất còn lại, Việt Nam.  Có thể là hoàng đế nhà Tống và các cận thần cố vấn của ông đã không nhìn thấy sự khác biệt cụ thể nào giữa tỉnh huyện cũ ở An Nam với các vương quốc khác – hay “đế quốc” khác như họ vẫn tự xưng – khởi lên tại các tỉnh phía nam.  Tất cả đều là một phần của đế quốc nhà Đường và chính vì thế tất cả phải quay về thần phục nhà Tống.  Nhưng Việt Nam thì khác; chỉ mình Việt Nam mới có cá tính dân tộc thực sự của mình mạnh hơn các sự ràng buộc của nó với Trung Hoa, đặc biệt trong khía cạnh chính trị của mối quan hệ đó.  Việt Nam đã kháng cự, và với sự thành công.  Cuộc xâm lăng của nhà Tống bị đẩy lui.  Nó không bao giờ mưu toan xâm lăng nữa.  Việt Nam thừa  nhận quyền chủ tể của Trung Hoa, và các hoàng đế nhà Tống đã chấp nhận phương thuật giữ thể diện này.  Đây vẫn còn là chính sách của Trung Hoa từ thời điểm đó trở về sau, chỉ bị đảo ngược một lần duy nhất.  Nhà Tống trong thực tế đã gặp các vấn đề khác gây khó khăn cho họ.  Biên cương phía bắc, bất an kể từ khi có sự mất mát các phần đất kiểm soát các cửa ải xuyên qua Trường Thành, mà họ đã thất bại không tái chinh phục được, là khó khăn thường xuyên của họ.  Việt Nam là vấn đề nặng về uy tín hơn là an ninh quốc gia, nó có thể để yên thân một mình.

Các sự thay đổi triều đại ở Việt Nam, diễn ra bởi các cuộc nổi dậy hay đảo chính cung đình, đã không cám dỗ nhà Tống nắm giữ lấy bất kỳ cơ hội nào như thế.  Năm 1010, chỉ hai mươi năm sau sự đẩy lui cuộc xâm lăng của nhà Tống, một triều đại mới, nhà Lý, đã lên nắm quyền bính ở Việt Nam.  Nó tức thời tái tục mối quan hệ chủ tể - cống nạp hiên hữu với đế quốc nhà Tống, và được chấp nhận.  Kế đó khi bị di chuyển trong năm 1225, đế quốc nhà Tống đã mất miền bắc Trung Hoa vào tay người Kim Thát Đát xâm lăng và đã được thiết lập tại miền nam, ở Hàng Châu, kiểm soát thung lũng sông Dương Tử và mọi lãnh thổ phía nam con sông đó.  Trong những thời kỳ trước, sự di chuyển quyền lực trung ương của Trung Hoa xuống miền nam đồng nghĩa với một khuynh hướng mở rộng đất biên giới phía nam.  Điều được nghĩ trong thực tế rằng đã có một phong trào đáng kể của dân chúng miền bắc xuống vùng Nam Hoa lúc bấy giờ, nhưng được hòa nhập trong vòng các biên cương hiện hữu của đế quốc nhà Tống.  Miên nam Trung Hoa đã phát triển mau chóng trong thời kỳ này, nhưng áp lực không đủ mạnh để đẩy nhà Tống vào các cuộc chiến tranh chinh phục ra ngoàì lãnh địa của nó.  Hơn nữa, Trung Hoa đã phải phòng vệ một biên cương miền bắc mở ngỏ dọc theo bờ ranh không xác định của dải đất viền phía bắc lưu vực sông Dương Tử, một vùng không có biên cương tự nhiên, đặc biệt tại phần phía đông.

Triều đại mới của Việt Nam, nhà Trần [ghi sai là Tranh trong nguyên bản, chú của người dịch], được để yên bởi nhà Nam Tống, nhưng không quá lâu, đã phải đối diện với nỗi nguy hiểm khổng lồ của các cuộc xâm lăng của Mông Cổ.  Khi nhà Trần lên nắm quyền bính, nhà Tống đã sẵn bị tấn công bởi các chủ nhân mới của miền bắc Trung Hoa, và của một đế quốc trải ngang qua Á Châu cho đến trung tâm nước Nga.  Sự chính phục nhà Nam Tống bởi người Mông Cổ là một tiến trình chậm rãi, lâu dài, bị kháng cự mãnh liệt trong bốn mươi năm.  Phải đợi mãi đến năm 1278 ham đội nhà Tống cuối cùng mới bị triệt hạ ngoài khơi Hồng Kông và triều đại sau rốt bị hủy diệt.  Năm năm sau đó, trong năm 1284, Kubilai Khan, Hoàng Đế người Mông Cổ của Trung Hoa là người mà người Trung Hoa nhìn nhận như nhà cai trị chính thống đầu tiên của đế quốc (mặc dù các tiền nhân của ông ta, trở lùi lại từ Genghiz, trong thực tế đã đô hộ miền bắc Trung Hoa trong bảy mươi năm), đã xâm lăng Việt Nam.  Người Việt Nam, đối diện với uy thế của quyền lực quân sự lớn nhất trên thế giới vào lúc bấy giờ, đã dựa vào phương sách chiến tranh du kích; các thành phố bị bỏ hoang cho quân xâm lược, cuộc kháng chiến tập trung tại vùng rừng núi.  Các đội quân Mông Cổ chủ yếu là kỵ binh, và khí hậu cũng như địa thế của Việt Nam thì bất lợi cho các lực lượng của họ.  Các cuộc xâm lăng đã tái diễn trong ba hay bốn năm, nhưng các sự tổn thất vì bệnh tật và tính chất bất quyết của cuộc chiến tranh cuối cùng khiến Kubilai quyết định rằng Việt Nam không đáng để khổ công và gánh chịu sự tổn thất; ông ta đã chấp nhận cống phẩm của các nhà lãnh đạo triều Trần và triệt thoái các đội quân bị hao hụt của mình.  Ở thời điểm này, điều cần phải được nhấn mạnh, “Việt Nam”, hay An Nam như được gọi bởi người Trung Hoa, hãy còn chỉ bao gồm châu thổ sông Hồng và dải duyên hải xuôi nam cho đến vùng thuộc vĩ tuyến thứ 17.  Cuộc “Nam Tiến: March to the South” vĩ đại mới chỉ bắt đầu.  Triều đại  nhà Trần chỉ cai trị phần giờ đây là Bắc Việt Nam.

Triều đại đó kéo dài hơn chính triều đại nhà Nguyên Mông Cổ của Trung Hoa.  Trong năm 1400, khi nó bị sụp đổ, nhà Minh, tượng trưng cho sự phản công của Trung Hoa, đã đánh đuổi quân Mông Cổ ra khỏi Trung Hoa và dưới Hoàng Đế Vĩnh Lạc dũng mãnh đã thúc đẩy sự xác quyết lòng trung thành với nó vào thế giới các vương quốc phương nam, bằng cả đường biển lẫn đường bộ.  Một ít năm sau khi có sự sụp đổ của nhà Trần, năm 1407, Hoàng Đế Vĩnh Lạc, được nghĩ đã quyết định rằng ông không cần nhìn nhận các kẻ kế ngôi nhà Trần, đã xâm lăng và chinh phục xứ sở.  Như sẽ được nhận thấy, vương quốc này đã sẵn mở rộng về phía nam đến tận Đà Nẵng, nhưng xem ra sự cai trị của Trung Hoa chưa hề được thiết lập một cách thực vững chắc tại các vùng đất mới phía nam này.  Dù sao đi nữa, sự thống trị đã không kéo dài.  Chính Vĩnh Lạc đã mất đi năm 1425, và đã có một sự kế vị mau lẹ của các vị hoàng đế vắn số tại Trung Hoa, làm suy yếu chính quyền.  Trong năm 1427, một cuộc nổi dậy đã sẵn bị phá tan chin năm trước vào năm 1418 dưới sự lãnh đạo của Lê Lợi, đã đánh bại quân Trung Hoa gần thành phố biến giới, Lạng Sơn, thu đoạt được thắng lợi quyết định và tái chiếm kinh đô, Hà Nội.  Các hoàng đế nhà Minh, giống như các kẻ tiền nhiệm nhà Tống, sau đó đã chấp nhận cống phẩm dâng tặng bởi Lê Lợi, người đã thành lập triều đại Việt Nam mới.  Cuộc xâm lăng của Vĩnh Lạc đã là nỗ lực sau cùng bởi các nhà lãnh đạo Trung Hoa nhằm sáp nhập Việt Nam thành một tỉnh thuộc đế quốc Trung Hoa.  Khi các người Mãn Châu thừa kế ngai vàng trong thế kỷ thứ mười bảy, họ đã thực hiện một vài sự biểu dương quân sự với Việt Nam, nhưng đã mau chóng chấp nhận mối quan hệ chính trị hiện hữu được thiết lập trước tiên dưới thời nhà Tống.  Chính vì thế, trong hơn một nghìn năm, kể từ khi thâu đạt được nền độc lập năm 939 cho đến cuộc chinh phục của Pháp hồi cuối thế kỷ thứ mười tám, Việt Nam trong thực tế là một quốc gia độc lập, ngay dù nó vẫn là một nước nằm dưới ảnh hưởng văn hóa mạnh mẽ và liên tục của Trung Hoa.

Sự cai trị của Trung Hoa đã từng được áp dụng trên một khu vực nhỏ hơn nhiều của vương quốc phát sinh sau khi nền độc lập đã đạt được.  Điều đó có lẽ là một lý do tại sao nhà Đường và trước đó, các đế quốc yếu hơn chẳng hạn như các đế quốc miền nam Trung Hoa giữa thời nhà Hán và nhà Đường, đã có thể duy trì thẩm quyền của chúng tại tỉnh hạt xa xôi này.  Về phía người Việt Nam trong các thế kỷ này đã bị ngăn trở khỏi cuộc mở rộng về phía nam bởi có sự hiện diện của vương quốc Chàm hiếu chiến mở các cuộc tấn công cướp bóc bằng đường biển trên vùng duyên hải.  Sự bảo hộ của đế quốc Trung Hoa là cần thiết và đã phải trả giá với sự cai trị trực tiếp của Trung Hoa.  Gần như tức thời sau khi nền độc lập đã đạt được vào đầu thế kỷ thứ mười sau Công Nguyên, tình trạng này đã thay đổi.  Một nguyên do chính là sự gia tăng dân số tại châu thổ sông Hồng phì nhiêu dưới sự cai trị lâu dài và yên ổn của nhà Đường.  Áp lực đòi hỏi các vùng đất mới để định cư, và trong bản chất là một dân tộc trồng lúa gạo, người Việt Nam đã tìm thấy các mảnh đất này dọc theo dải duyên hải phì nhiêu, chứ không phải tại miền núi phía tây giáp ranh với Vân Nam.  Vùng đồi núi khi đó, như bây giờ, phần lớn được cư trú bởi các bộ tộc không thuộc sắc dân Việt Nam [sic], thường thù nghịch với dân ở đồng bằng; điều đáng làm hơn nhiều là chiếm giữ khu đất tốt dọc duyên hải hơn là mở các cuộc chinh phục khó khăn dành giựt đất xấu hơn tại miền núi.

Trong năm 982 triều đại mới nhà Đinh, mới chỉ lên nắm quyền bính khoảng bốn mươi năm trước đó, đã đủ mạnh để xâm lăng xứ Chàm và lục soát kinh đô của nó, khi đó nằm ở phía bắc của xứ đó.  Việt Nam có giữ lại một vài lãnh thổ đã chinh phục, nhưng cuộc nam tiến được tái tục bởi triều đại Việt Nam kế tiếp, nhà Lý (1010-1225), vào năm 1069, đã sáp nhập tất cả vùng đất của Chàm sâu đến vĩ tuyến thứ 17, có nghĩa, là phần thuộc Bắc Việt Nam bây giờ.  Rõ ràng là các cư dân Chàm đã không chỉ bị chinh phục – hay hạ sát – các kẻ sống sót bị xua đuổi, đi tìm nơi ẩn náu tại các phần đất phía nam quê hương của họ.  Cuộc chinh phục của Việt Nam không chỉ là một cuộc xâm lược để áp đặt quyền thống trị và thu thuế, nó được trù hoạch với chủ ý dành đạt lãnh địa mới cho sự định cư của người Việt Nam.  Mục tiêu này được chứng tỏ là động lực thống nhất và khát vọng của chế độ mới độc lập.  Các nông dân, chen chúc tại các khu đất thiếu hụt của châu thổ sông Hồng, muốn có các vùng đất mới để chạy trốn nạn nghèo đói gia tăng tại các làng xã quá đông đúc.  Tầng lớp địa chủ -- giới mà chế độ Cộng Sản ngày nay gọi là “phong kiến”, chỉ là giới trung nông có sở hữu đất đai trong thực tế phần lớn được tuyển dụng bởi chính quyền làm các viên chức giống như ở Trung Hoa – đã muốn có điền sản mới; cả hai tầng lớp vì thế hậu thuẫn cho các cuộc chiến tranh chinh phục và định cư.  Đặc tính cuộc di dân nam tiến của Việt Nam chính vì thế rất giống với tính chất của cuộc nam tiến của Trung Hoa trong vùng ngày nay là các tỉnh phía nam Trung Hoa.  Nhưng tại Việt Nam đã không có chỗ hay mong muốn sự có mặt của dân định cư Trung Hoa: người Việt Nam tự họ đã quá đông đảo.  Họ mang văn hóa và phong tục Trung Hoa cùng với họ xuống miền nam, nhưng cuộc bành trướng vĩ đại đã không mang tính chất Trung Hoa về mặt nhân lực hay trong sự chỉ đạo.  Sự thống trị của Trung Hoa tại Việt Nam đã kết liễu trước khi nó khởi sự.

Khi triều đại nhà Lý sụp đổ, triều đại mới nhà Trần, 1225-1400, đã đảm nhận nhiệm vụ và theo đuổi cùng chính sách.  Vào khoảng năm 1306, họ đã vươn tới Đà Nẵng, giờ đây thuộc Nam Việt Nam.  Sự trì hoãn tương đối trong việc đạt tới mục tiêu này có thể là một hậu quả của các cuộc xâm lăng ồ ạt của Mông Cổ vào năm 1284 và sự tàn phá mà chúng đã gây ra.  Việt Nam đã không thể đáp ứng được các cuộc mạo hiểm phía nam trong khi mối đe dọa này còn tồn tại.  Vào năm 1306, Kubilai Khan từ trần, và các người thừa kế ông ta, các vị vua trị vị ngắn ngủi và chết sớm, đã từ bỏ giấc mộng chinh phục toàn thế giới của mình.  Trong triều đại nhà Nguyên (Mông Cô) sau này, Trung Hoa đã im lặng về đối sách với phương nam.  Các vua nhà Trần của Việt Nam do đó đã có thể tái tục cuộc “Nam Tiến”, đến mãi tận Đà nẵng, nhưng có lẽ rằng bước tiến dài này đòi hỏi nhiều hơn những gì mà một triều đại đã sẵn vượt quá thời cực thịnh của mình có thể đáp ứng một cách an toàn.  Trong năm 1371, người Chàm, trong một cuộc quật khởi hữu hiệu sau cùng, đã càn quét miền bắc và thực sự chiếm giữ và lục soát chính Hà Nôi.  Tai họa này đã đẩy triều đại nhà Trần vào một tình trạng rối loạn từ đó nó không bao giờ hồi phục.  Ba mươi năm sau đó nó đã bị thay thế vào năm 1400 và trong sự rối loạn tiếp theo sau, hoàng đế Vĩnh Lạc của Trung Hoa đã đạt được sự tái chính phục ngắn ngủi của ông ta tại Việt Nam (1407-27).  Kế đó, tình trạng này đã được kết thúc với cuộc kháng chiến thành công của triều đại mới, nhà Lê, nhưng đã phải mất năm mươi năm trước khi cuộc Nam Tiến có thể tại tục trên một quy mô rộng lớn.  Cuộc phản công của người Chàm trong năm 1371, được hỗ trợ bởi các tình huống trùng hợp với cuộc tấn kích, đã mang lại cho người Chàm một ân hạn trong một trăm năm.

Trong năm 1471, nhà vua Việt Nam đã xâm lăng xứ Chàm với thế mạnh và đã chiến thắng toàn diện.  Kinh đô bị chiếm cứ, một cuộc tàn sát quy mô các cư dân đã được thực hiện, và vương quốc Chàm đã thực sự bị hủy diệt. Số người Chàm còn sót lại ở mãi xa phía nam, vùng châu thổ sông Cửu Long, miền đất đã bị phân chia thành nhiều lãnh địa nhỏ, tất cả đều dưới quyền chủ tể củaViệt Nam.  Người Việt đã đạt được phần lớn mục tiêu của họ, sự chinh phục miền nam, nhưng sự kiện này chứng tỏ sẽ tự nó trở thành một vấn nạn.  Sự bành trướng vào các vùng đất mới, nơi ít dân hơn, có nghĩa là các di dân có khuynh hướng thụ đắc các đặc tính khác luôn luôn làm cho các di dân trở nên khác biệt.  Họ trở nên ít phục tùng hơn đối với chính quyền trung ương xa xôi, độc lập hơn trong cách nghĩ và lối sống của họ.  Họ đã khám phá rằng bởi việc di chuyển về phía nam người ta có thể để lại phần lớn một chính quyền đàn áp phía sau; nếu nó truy đuổi, người ta chỉ còn cách di chuyển đến vùng đất mới hơn, song lại phì nhiêu hơn.  Không bao lâu chính quyền ở Hà Nội nhận thấy miền nam xa xôi khó kiểm soát được.  Triều đại nhà Lê đã đi qua thời cực thịnh của nó hồi giữa thế kỷ thứ mười sáu.  Hai gia tộc quan chức lớn đã chế ngự triều đình, và các âm mưu và sự thù nghịch lẫn nhau của họ đã đe dọa đến chế độ.  Trong hai gia tộc, họ Trịnh có quyền lực lớn hơn tại Hà Nội, và trong năm 1558 họ đã âm mưu để tự loại bỏ đối thủ của mình, họ Nguyễn, bằng cách đẩy trưởng tộc họ Nguyễn được cử đi làm tổng trấn miền nam, với tổng hành dinh tại Huế.  Việc này vừa dành cho họ Trịnh một thẩm quyền không bị đụng chạm tới trên các vua Lê yếu ớt, vừa để các khó khăn của miền nam cho đối thủ của họ giải quyết sao cho tốt nhất với khả năng của họ Nguyễn.

Nhà Nguyễn đã chứng tỏ rất có khả năng để đối phó với các vấn đề này.  Giờ đây đã có điều tuơng đương, và được phát triển vững chắc, như một chính quyền trung ương mới tọa lạc tại chính miền nam, ở Huế.  Chính nhà Nguyễn quan tâm đến việc mở rộng thêm nữa, để gia tăng lãnh địa của họ và tự mình củng cố để chống lại nhà Trịnh ở phương bắc.  Sự bành trướng sẽ mang các kẻ định cư mới từ phương bắc vào, và miền nam vẫn còn thưa dân hơn nhiều.  Chỉ trong vòng hơn một thế kỷ, vào khoảng 1692, các nhà lãnh đạo nhà Nguyễn tại Huế đã hoàn toàn trấn áp các lãnh địa Chàm còn lại và thực sự làm quốc gia đó tan biến đi.  Một số cộng đồng người Chàm hãy còn hiện diện dọc bờ biển sâu phía nam của Việt Nam, và tại các quận huyện lân cận ở Căm Bốt, nhưng nếu kể như một dân tộc, người Chàm đã biến mất trong lịch sử.  Nhà Nguyễn đã chiếm cứ Sàigòn trong năm 1691.  Biến cố này chỉ xảy ra vài năm sau khi triều đại mới của Trung Hoa, Mãn Châu, dưới thời Hoàng Đế Khang Hi trẻ tuổi, mạnh bạo, sau hết đã trấn áp tất cả các đối thủ gốc Trung Hoa của ông ở miền nam Trung Hoa và chinh phục toàn thể đế quốc (1688).  Sự kiện rằng nhà Nguyễn nhận thấy có thể tiến hành cuộc chinh phục lớn lao sau cùng ở miền nam, tức vùng châu thổ sông Cửu Long, vào một thời điểm khi mà đối thủ của họ tại Hà Nội, nhà Trịnh, phải dò chừng tham vọng và sự thù nghịch khả hữu của vị Hoàng Đế Trung Hoa hiếu chiến và say men chiến thắng chắc chắn có ý nghĩa quan trọng.  Sự lúng túng của nhà Trịnh đã là cơ hội cho nhà Nguyễn.

Nhà Nguyễn đã không mấy lo sợ về Khang Hi; họ thu nhận vào các vùng đất mới chinh phục không chi dân di cư gốc Việt mà còn cả các người tỵ nạn Trung Hoa trốn tránh sự chinh phục của Mãn Châu thuộc miền Nam Trung Hoa; một số trong các người này đã thành lập ra Chợ Lớn, thành phố chị em của Sàigòn vẫn còn được cư trú bởi người Trung Hoa.  Các người khác định cư tại châu thổ sông Cửu Long.  Trong các thời đại sớm hơn, không chế độ Việt Nam nào dám chứa chấp các kẻ địch của Hoàng Đế Trung Hoa.  Nhà Trịnh ở Hà Nội vẫn còn ở trong vị thế này, nhưng nhà Nguyễn miền nam có thể coi thường sự cấm đoán cổ xưa này và không cần biết đến Trung Hoa; họ có nhà Trịnh nằm ở giữa.  Sự kiện này soi sáng sự thay đổi lớn lao mà cuộc Nam Tiến đã mang lại trong các quan hệ giữa vương quốc Trung Hoa và nước “triều cống” của nó, An Nam.  Nước triều cống giờ đây là một vương quốc to lớn, và nửa miền nam của nó ha6`u như không tiếp cận với quyền lực Trung Hoa trực tiếp.  Người Mãn Châu, một dân tộc đại lục, không bao giờ đi đường biển, cũng không duy trì các lực lượng hải quân lớn và hữu hiệu.  Đế quốc Mãn Châu vào chính thời gian này đang sẵn sang dấn thân vào các chiến dịch xa xăm để chinh phục xứ Mông Cổ, vùng trung Á Châu và Tây Tạng.  Một thế kỷ sau đó nó đã thực hiện một kỳ công đáng kể của việc vượt qua Hy Mã Lạp Sơn và chinh phục Nepal, nhưng nó không mưu toan tái chinh phục Việt Nam, bắc hay nam, nhà Trịnh hay nhà Nguyễn.  Hệ thống, giờ đây đã được thử nghiệm trong nhiều thế kỷ, theo đó Việt Nam đã sẵn nhìn nhận quyền chủ tể của Hoàng Đế và tham gia trọn vẹn vào văn minh Trung Hoa đủ để thỏa mãn lòng kiêu hãnh và ít gây tốn kém cho hầu bao của các nhà cầm quyền Trung Hoa.

Sự loại trừ xứ Chàm, và sự sống sót lâu dài đến thế của nó, có liên hệ mật thiết với các sự may mắn của một đất nước mà Việt Nam đã có ít sự tiếp xúc trực tiếp trước đây, Căm Bốt.  Sự ngừng nghỉ lâu dài trong cuộc Nam Tiến theo sau sự tiến bước tới vùng vĩ tuyến thứ 17 năm 1609, trước bước tiến lớn lao đến Đà Nẵng năm 1306, là một phần trong cùng thời kỳ mà nhà vua vĩ đại của Căm Bốt, Jayavarman VII đang theo đuổi cuộc chinh phục của ông ta tại miền nam xứ Chàm.  Ông ta đã chiếm giữ nước đó cho đến khi từ trần, vào năm 1218, tuy thế Chàm đã dành lại được nền độc lập sau đó.  Ngay trước thời trị vì của ông, Việt Nam đã phải dè chừng về quyền lực Căm Bốt như là một kẻ tranh dành sự thừa kế di sản Chàm.  Trong suốt thế kỷ thứ mười hai, từ 1123 trở về sau khi Nhà Vua Suryavarman II tấn công chính An Nam (như sẽ được lập lại một lần nữa vào năm 1150), quyền lực Căm Bốt tích cực hoạt động tại phía nam của đất nước giờ đây là Việt Nam, cả hai bên đều chống lại người Chàm, và đôi khi liên minh với họ [người Chàm].  Sự thụ động tương đối của nhà Tống ở Trung Hoa, đúng ra nên khuyến khích người Việt đẩy mạnh cuộc Nam Tiến, đã được cân đối bởi sự tích cực của Căm Bốt trong vùng mà một cuộc Nam Tiến như thế sẽ nhắm tới.  Vua Jayavarman VII đã là nhà chinh phục Căm Bốt vĩ đại cuối cùng; các chiến dịch của ông, và các kiến trúc của ông, đã làm khô cạn các tài nguyên của vương quốc, và trong thế kỷ thứ mười ba, Căm Bốt bước vào trước tiên một thời kỳ yên tĩnh kéo dài sang thế kỷ sau thành sự suy sụp.  Sự giảm bớt áp lực của Căm Bốt này cho phép người Chàm phóng ra cuộc phản công vĩ đại sau cùng của họ vào Việt Nam trong năm 1371 tương tự như thế, sau khi cuộc chinh phục của nhà Minh vào Việt Nam bởi Hoàng Đế Vĩnh Lạc bị kết thúc trong năm 1427, việc này đã mang lại cho Việt Nam quyên tự do hành động cần thiết để chinh phục nước Chàm năm 1471.

Vào thời gian mà người Việt Nam tiến vào châu thổ sông Cửu Long, Căm Bốt, dưới áp lực thường trực của người Thái, các kẻ triều cống trước đây nay trở thành các kẻ địch hùng mạnh, đã bị bắt buộc từ bò Angkor; và các vị vua của nó đã được tạo lập một cách khá bấp bênh nơi hạ lưu sông Cửu Long, bao gồm phần lớn vùng ngày nay là châu thổ phía trên.  Chính vì thế, người Việt Nam sau khi hủy diệt các lãnh địa Chàm đã lập ra một biên giới chung với một nước Căm Bốt suy yếu và bị quấy rối.  Áp lực trước đây được đặt trên người Chàm đã được chuyển sang người Khmer, những kẻ dần dà bị buộc rời khỏi vùng châu thổ.  Sự đối đầu giữa một Căm Bốt suy yếu và một Việt Nam đang bành trướng dưới các chúa nhà Nguyễn mang lại sự thù nghịch lâu dài giữa hai dân tộc.  Người Khmer lo sợ cùng số phận của người Chàm, và nhìn thấy xứ sở lưu vực sông Cửu Long màu mỡ của chính họ như là khu vực kế tiếp cho sự bành trướng của Việt Nam; người Việt Nam không ngừng cuộc Nam Tiến, và dưới thời Pháp thuộc, vẫn tiếp tục trong thực tế cho xâm nhập các người định cư vào Căm Bốt.

Cuộc Nam Tiến, đặc biệt các giai đoạn về sau của nó khi một số tỷ lệ dân số bị trị bị đồng hóa vào dân Việt Nam chiến thắng, đã có ảnh hưởng làm loãng đi và thay đổi một cách tế vi tính  chất văn hóa Trung Hoa mà người bắc Việt Nam đã chấp nhận quá lâu.  Dân chúng của các tỉnh miền nam ít bị xâm nhập và kiểm soát nặng nề bởi tầng lớp học thức – học tập Khổng Học Trung Hoa – so với miền bắc.  Các điền sản thì lớn hơn, tỷ lệ các nông dân cao hơn tỷ lệ các điền chủ.  Hậu quả, văn hóa Khổng học miền bắc bị thách đố bởi một phần các giáo phái và khuynh hướng tiền-Việt Nam, một phần bởi các giáo phái và khuynh hướng mới tự phát ở miền nam.  Đạo Phật nở rộ, và mang tính chất một tín ngưỡng bình dân như đối kháng lại một tín ngưỡng chính thức.   Chắc chắn nó đã thu hút sức mạnh từ tính chất Phật Giáo của các phần tử Chàm và Căm Bốt trong dân chúng.  Về sau các giáo pháo bản xứ đã phát sinh, một số hãy còn tiếp tục.  Sau sự du nhập Ki-tô-giáo, đạo Công Giáo đã có sự tiến triển mau lẹ.  Các chuyển động này có thể được nhìn một phần là vì sự suy giảm tác động của nền văn minh Trung Hoa thuần túy ở một khoảng cách xa xăm hơn với nguồn cội, và một phần vì các nguyên do xã hội, tính chất độc lập của một dân số nông dân mở đường khai phá đối lập với các sự cao ngạo của tầng lớp địa chủ.   

Sự kiện rằng chính miền nam đã là nơi mà các du khách và các nhà mậu dịch Âu Châu đến đầu tiên, mang theo họ các tư tưởng mới và một tôn giáo mới, đã bổ túc cho sự khác biệt cấp miền đang phát triển này.  Nó diễn ra vào khoảng hai mươi năm trước khi chức phó vương kinh lược (hay tổng trấn: viceroyalty) miền nam được thiết lập dưới sự lãnh đạo của họ Nguyễn (1558), rằng chiếc tàu Bồ Đào Nha đầu tiên đã cập bến duyên hải Việt Nam (1535).  Các nhà truyền giáo đã sớm theo bước các kẻ hải hành ban đầu và tìm thấy vùng đất xa xôi phía nam, châu thổ sông Cửu Long, một cánh đồng tương đối phì nhiêu cho sự nỗ lực của họ.  Các yếu tố phác họa ở trên làm suy yếu sự chống đối phổ thông đối với một tôn giáo mới, và sự dễ dàng và tiến bộ của các việc cải đạo Công Giáo tại miền nam chắc chắn phản ảnh một khía cạnh trong tính chất người dân miền nam Việt Nam, trong thực tế, đến tính chất của mọi người Việt Nam, đánh dấu một sự khác biệt rõ ràng giữa họ và chính dân tộc Trung Hoa.  Có thể là một dân tộc sẽ luôn luôn ý thức một cách khó chịu về sự kiện rằng nền văn hóa của họ mang tính chất ngoại lai và nguyên thủy bị áp đặt bởi sự chinh phục.  Các truyền thống tương tự của sự chống đôi, che dấu và bình dân hơn là công khai và quý tộc, đối với các nền văn hóa ngoại quốc bị áp đặt xuất hiện tại nhiều nơi trên thế giới (Ái Nhĩ lan (Ireland) là một thí dụ tốt).  Một sự biểu lộ của thái độ này, có tầm quan trọng lớn lao đến văn hóa tương lai của Việt Nam và mối quan hệ của nó với Trung Hoa, đã là một hậu quả gián tiếp của nỗ lực truyền giáo.

Đối diện với sự khó khăn gấp đôi của sự phức tạp và phạm vi của văn tự biểu ý (ideographic) của Trung Hoa và sự kiện rằng phần lớn dân chúng mù chữ, các nhà truyền giáo đã quyết định tạo ra một cách ký âm bằng mẫu tự la mã cho tiếng Việt (là một ngôn ngữ cho phép làm việc này) và sáng chế ra Quốc Ngữ [tiếng Việt trong nguyên bản, ND],  bản ký âm bằng mẫu tự la mã cho ngôn ngữ nói của Việt Nam.  Sau đó họ đã phiên dịch các tài liệu tôn giáo thành tiếng Việt với sự sử dụng loại hệ thống chữ viết này.  Một sự phát triển như thế sẽ không bao giờ khả thi tại Trung Hoa: trước tiên bản chất của một ngôn ngữ phần lớn là từ đồng âm (homophonic) tự nó không thích nghi với sự ký âm bằng mẫu tự [la tinh]; thứ nhì, sự kính trọng của người Trung Hoa và sự hãnh diện về hệ thống văn tự biểu ý của chính họ sẽ tức thời sỉ nhục bất kỳ sự ký âm mới nào là “man rợ”.  Các nhà truyền đạo Công Giáo ban đầu tại Trung Hoa, đã đi theo một con đuờng đúng là đối nghịch với các đồng sự của họ ở Việt Nam, đã học tiếng Trung Hoa và trở thành các học giả tinh thông về văn chương và ngôn ngữ cổ điển.  Quốc Ngữ đã được loan truyền một cách mau lẹ, và vượt quá phạm vi các khối người cải đạo Thiên Chúa.  Nó đương nhiên khơi lên sự báo động của giới quan chức học theo Khổng Học và địa chủ, bởi nó đâm thọc vào các nền tảng thẩm quyền và uy tín của họ.  Ngoài ra, nó không phải là một hệ thống được chấp nhận để ký âm ngôn ngữ Trung Hoa cổ điển, và vì thế không giúp ích gì cho các nhà giáo dục cổ truyền.  Giống như bên Trung Hoa, ảnh hưởng quan trọng tối hậu của sự rao giảng đạo Ki-tô, hiện diện ngay từ các giáo sĩ Dòng Tên đầu tiên được tuyển dụng bởi Triều Đình như các nhà thiên văn và toán học, chính là việc gieo những hạt mầm quan tâm đến khoa học tự nhiên, tại Việt Nam cũng thế, ảnh hưởng quan trọng tối hậu là sự tạo lập (cũng từ các giáo sĩ đầu tiên) một công cụ thích hợp để phổ biến và tăng cường văn hóa dân tộc đối lập với văn minh ngoại lai có nguồn gốc Trung Hoa.

Ảnh hưởng đạo Thiên Chúa không lâu cũng đã được du nhập vào phần phía bắc của Việt Nam, nhưng không có vẻ hoàn toàn thật mạnh mẽ như là tại miền nam.  Nó cũng gắn liền với sự tăng trưởng mậu dịch và sự xuất hiện của một tầng lớp thương nhân tại các hải cảng và các thành phố. Sự phân chia giữa các vị chúa Nguyễn ở phương nam với các quan nhiếp chính họ Trịnh chế ngự triều đình miền bắc làm mệt mỏi và gây cản trở cho các nhà mậu dịch, và xúc phạm đến cảm thức thống nhất của toàn thể người dân.  Nó tiếp tục tạo khó khăn cho xứ sở với các cuộc nội chiến và phân tranh trong suốt thế kỷ thứ mười bảy cũng như phần đầu của thế kỷ thứ mười tám.  Truyền thống Khổng học khinh miệt thương mại và chính quyền chỉ làm ít điều để hỗ trợ thương mại và nhiều điều gây phiền nhiễu và bóc lột tầng lớp thương nhân.  Các du khách ngoại quốc ghi nhận về sự nghèo khổ của giới nông dân và nhận xét rằng các thương nhân, mặc dù thường giàu có, đã cố gắng tối đa để che dấu tình trạng của mình trước một chính quyền thù nghịch.  Nơi đây, một lần nữa, sự nhấn mạnh thái quá trên một nét của nền văn hóa nhập cảng có thể được nhìn thấy ở Việt Nam.  Tại Trung Hoa, tầng lớp quan chức có miệt thị về mặt tri thức các thương nhân, nhưng trong thực tế thường cộng tác với họ trong các cuộc kinh doanh béo bở và nhắm mắt làm ngơ trước các sự né tránh luật lệ chống lại việc tạo mãi đất đai và mua chức tước.

Các sự căng thẳng của xã hội Việt Nam, xảy ra một phần vì sự đình chỉ thực sự Cuộc Nam Tiến sau khi sáp nhập châu thổ sông Cửu Long hồi cuối thế kỷ thứ mười bảy (1622) đã bùng nổ khoảng tám mươi năm sau đó trong cuộc nổi dậy rộng lớn của Tây Sơn (1771-1802), lãnh đạo bởi ba anh em họ Nguyễn, các kẻ xem ra đã có một căn bản thương nhân.  Cuộc nổi dậy của họ phát khởi tại miền nam và một phần dựa vào vùng núi rừng che phủ phía tây bắc châu thổ sông Cửu Long, từ đó phong trào mang tên là Tây Sơn, có nghĩa là núi phía tây].  Cuộc nổi dậy cực kỳ thành công trong nhiều năm.  Sàigòn được chiếm giữ trong năm 1776, và mười năm sau đó quân nổi dậy, đã thực sự lật đổ các chúa Nguyễn ở miền nam, đã tấn công miền bắc và thu doạt kinh thành nhà vua ở Hà Nội vào năm 1786.  Các quan nhiếp chính họ Trịnh quẫn trí và các kẻ ủng hộ họ sau đó đã cầu cứu Trung Hoa sang giúp đỡ họ.  Hoàng Đế Càn Long của triều đại Mãn Châu, vị vua thứ ba trong bộ ba lãnh đạo vĩ đại của triều đại Mãn Châu, khi đó đang trên ngai vàng, vị thế ông đã chiếm ngự trong bốn mươi năm.  Ông ta quyết định rằng cuộc nổi dậy của Tây Sơn và sự sụp đổ của tất cả quyền thế đã được thừa nhận mở ra một cơ hội khác cho sự can thiệp của Trung Hoa.  Các đội quân trong thời trị vì của ông đã hoàn tất cuộc chinh phục Mông Cổ, Trung Á thuộc Trung Hoa, và Tây Tạng.  Trong năm 1789, ông đã phái một đội quân to lớn sang bắc Việt Nam, nhưng đã đụng độ và bị đánh bại bởi các lực lượng Tây Sơn gần biên giới.  Vua Càn Long đã từ bỏ bất kỳ sự can thiệp nào khác nữa.

 Chỉ một hay hai năm sau đó các lượng sẽ đánh bại phong trào Tây Sơn đã khởi sự hành động.  Một người Pháp phiêu lưu và là người xuất ngoại [émigré, tiếng Pháp trong nguyên bản, ND] trốn tránh cuộc Cách mạng Pháp, Pigneau de Behaine, đã thu gom ở lãnh địa chiếm hữu phía đông của Pháp tại Ấn Độ, vùng đất vẫn chưa chấp nhận cuộc Cách mạng, một lực lượng hỗn hợp các kẻ phiêu lưu Âu Châu dưới danh nghĩa phục vụ quân đội của Nguyễn Ánh, người tuyên nhận nối ngôi cuối cùng của các vị Chúa Nguyền ở miền nam đã bị sụp đổ, đã chạy trốn ra nước ngoài.  Các cuộc đột kích hải quân và các cuộc xâm nhập quy mô nhỏ đã được tổ chức bởi Pigneau de Behaine và đồng minh người Việt của ông trên bờ biển phía nam.  Họ nhận được vài sự hỗ trợ phần lớn từ các người cải sang đạo Thiên Chúa.  Trong năm 1791, họ đã tái chiếm Sàigòn, và từ căn cứ then chốt này đã liên tục theo đuổi mục đích của họ, đột kích và xâm nhập vùng bờ biển trong mọi kỳ có gió mùa đông nam (mùa hè).  Huế được chiếm giữ trong năm 1801; và chính Hà Nội trong năm kế tiếp, 1802, một biến cố đánh dấu sự kết thúc của nổi dây của Tây Sơn.  Cuộc nổi dậy đó đã được tượng trưng bởi một khía cạnh chống Khổng học và  mang tính dân tộc rõ rệt.  Quốc Ngữ trở thành ngôn ngữ chính thức của nó thay cho tiếng Hán cổ truyền; một trong các anh em nguyên thủy  đã phát động cuộc nổi dậy là một nhà sư Phật Giáo, và sự hậu thuẫn của các kẻ cải đạo theo Thiên Chúa cho cuộc phản cách mạng báo trước một sự sắp xếp hàng ngũ vẫn còn tồn tại cho đến thời điểm hiện tại.

Các sự kiện nổi bật khác về phong trào Tây Sơn là, trước tiên, tính chất toàn Việt Nam (pan-Vietnamese) đã được ý thức và thắng lợi.  Nó tái thống nhất xứ sở, từ chối việc lưu giữ sự chia cắt của các chúa miền nam, và thiết lập kinh đô của nó tại Hà Nôi., trung tâm chính quyền cũ.  Trong cung cách này, nó chắc chắn tiượng trưng cho một cảm nghĩ thống nhất rất sâu đậm trong dân chúng Việt Nam mà các sự chia cắt áp đặt liên tiếp đã không xóa nhòa được.  Thứ nhì, phong trào bị đánh bại bởi sự can thiệp bên ngoài, và không phải bởi sự can thiệp của Trung Hoa, vốn đã bị đẩy lui.  Các hoạt động của các lực lượng trên biển của Pigneau de Behaine chính vì thế đã báo trước cho sự chinh phục sắp đến của người Pháp, và sự chiến thắng bề ngoài của Nguyễn Ánh là khúc dạo mở màn cho sự thống trị của các đồng minh của ông.  Sự kiện rằng nhà Trịnh thua trận đã nghiêng về việc đánh liều với các hậu quả của cuộc xâm lăng của Trung Hoa hơn là chấp nhận tính chất dân tộc của phong trào Tây Sơn cũng minh họa cho một khuynh hướng mới trong sự phát triển của lịch sử Việt Nam.  Các phong trào dân tộc chủ nghĩa ngày càng trở nên đối nghịch với sự cai trị của các quan chức Hán hóa và một văn hóa hướng về Trung Hoa; khi trong thế kỷ thứ mười chin quyền lực của Trung Hoa thôi không còn là một vấn đề cấp bách, và sự xâm nhập của Pháp đã xảy ra, các phong trào dân tộc nổi dậy và phản kháng quay ra chống lại mối nguy hiểm ngoại lai mới.

Có các sự tương đồng giữa cuộc nổi dậy của Tây Sơn tại Việt Nam và cuộc nổi loạn Thái Bình Thiên Quốc tại Trung Hoa khoảng năm mươi năm sau đó.  Cả hai đều là các phong trào bình dân dựa trên giới nông dân và đối nghịch với ý thức hệ Khổng học đang thống trị, cả hai đều tiến sát tới sự chiến thắng toàn vẹn và sự tái định hướng có hậu quả sâu đậm trên văn hóa đất nước họ.  Cả hai đều phần lớn bị đánh bại bởi sự can thiệp của ngoại quốc dựa trên hải lực.  Sàigòn nằm trong tay Pigneau de Behaine báo trước vai trò của Thượng Hải như căn cứ quân sự cho “Quân Đội Mãi Mãi Chiến Thắng” của Tướng Gordon” và cơ sở tài chính cho đội quân triều đình ở An Huy khá hùng mạnh và hữu hiệu tối đa của Lý Hồng Chương.  Cả hai phong trào cũng hướng tới một thái độ mới, trong khi dấu mình trong các hình thức cổ xưa, từ đó các phong trào dân tộc và bình dân sau này đã lấy làm cảm hứng.  Tây Sơn bao hàm lý tưởng của một Việt Nam thống nhất, có tính cách dân tộc về văn hóa và bình dân trong sự ủng hộ.  Phong trào Thái Bình Thiên Quốc được nhìn nhận bởi Cộng Sản Trung Hoa ngày nay như các tiền thân, ngay dù thường đi sai đường, cho cuộc cách mạng thắng lợi của chính họ [cộng sản].

Nguyễn Ánh, người lên ngai vàng của một nước Việt Nam thống nhất, trong thực tế là công trình của các đối thủ của ông ta, đã trị vì với vương hiệu Hoàng Đế Gia Long của triều đại mới nhà Nguyễn.  Các tổ tiên của ông đã là các vị chúa miền nam, ông đích thân dựng Huế làm kinh đô của mình, và bỏ rơi Hà Nội.  Gia Long đã lập ra chính sách của mình để tăng cường tính chất Trung Hoa trong sự cai trị của ông trong mọi phương cách khả dĩ.  Tước hiệu mới của ông là Hoàng Đế, điều có thể hơi tự phụ trong mắt nhìn của Trung Hoa, đã không gây ra sự giận dữ tích cực của các kẻ kế ngôi bị quấy nhiễu của vua Càn Long, cũng không ngăn cản một sự thừa nhận chính thức quyền chủ tể của Trung Hoa.  Chính quyền được tập trung hóa một cách cứng ngắc; Nguyễn Ánh, hậu duệ của các vị chúa miền nam, đã không chủ định rằng các kẻ khác nên tranh dành lịch sử với gia tộc của chính ông.  Hệ thống khảo thí Trung Hoa tuyển chọn quan lại trong Công Quyền được tái củng cố và tái dập khuôn theo các đường nét gần gủi với cách thức của Trung Hoa.  Việc học tập Khổng học được nhấn mạnh, Phật giáo bị hạn chế và thường bị ngược đãi, chế độ, bất kể đến món nợ của nó với các kẻ đánh thuê người Pháp, trở nên chống lại Công giáo một cách rõ rệt.  Tại miền nam, chính sách thực dân vùng châu thổ được gia tăng bởi việc thành lập các khu khẩn hoang với binh sĩ là nông dân dọc theo biên giới Căm Bốt và tại các vùng đất mới thưa dân dọc theo hạ lưu sông Cửu Long.  Sự kháng cự tích cực chống lại cuộc chinh phục của Pháp mà các khu đồn điền đã chứng tỏ sau này cho thấy rằng Hoàng Đế Gia Long có thể đã sẵn hay biết là các tỉnh miền nam của ông bị mở ngỏ nhiều nhất trước hiểm họa ngoại bang, chứ không phải biên cương miền bắc với Trung Hoa dưới triều Mãn Châu.

Bốn hoàng đế kế tiếp nhau của Việt Nam đã trị vì và cai trị từ 1802 đến 1883, năm mà trong đó cuộc chinh phục của người Pháp hay chế độ bảo hộ cưỡng đặt, đã chấm dứt nền độc lập thực sự của Việt Nam.  Vua Gia Long (1802-20) đã không liên hệ trực tiếp vào sự tranh chấp với Pháp, và theo đuổi chính sách độc đoán và cổ truyền nghiêm ngặt của mình, kể cả các biện pháp chống lại Công giáo, đã không bị quấy nhiễu.  Hai người kế ngôi ngay sau ông, Minh Mạng, băng hà năm 1841, và Thiệu Trị, băng hà năm 1847, đã có thể kiềm chế các áp lực gia tăng một phần được phóng ra bởi các giáo sỉ và các kẻ cải đạo theo họ, phần khác phát sinh từ trạng thái lớn mạnh của chủ nghĩa đế quốc Âu Châu trong thế kỷ thứ mười chin, đang dâng cao quanh hai ông.  Cho đến khi chấm dứt sự trị vì của vua Gia Long các cuộc Chiến Tranh Napoleon và sự kiệt quệ của nước Pháp bởi sự giao tranh lâu dài này khiến cho sự xâm lăng nước ngoài từ vùng đất đó [Pháp] trở nên bất khả thi.  Cho đến khi Anh Quốc phát lộ nhược điểm nội tại của triều đình Mãn Châu tại Trung Hoa qua các chiến thắng dễ dàng của Anh trong Cuộc Chiến Tranh Nha Phiến (1840-2), các dân tộc Âu Châu hãy còn có sự kính trọng đối với sức mạnh của các đế quốc phương đông vốn có thể được chứng minh trong thế kỷ thứ mười tám, nhưng giờ đây đã trở nên lỗi thời.  Điều quan trọng là sự khởi động quân sự đầu tiên của Pháp, một cuộc tấn công vào thành phố hải cảng Đà Nẵng, xảy ra trong năm 1847, chỉ năm năm sau sự bại trận của Trung Hoa trong cuộc Chiến Tranh Nha Phiến.  Đó là một biến cố biệt lập, không có các hậu quả lâu dài, nhưng nó đã diễn ra vào năm mà Hoàng Đế Thiệu Tri bị mất, người kế ngôi ông, vua Tự Đức, vị quân vương độc lập cuối cùng của Việt Nam, sắp phải chiến đấu suốt cuộc đời mình chống lại sự xâm lấn gia tăng.

Trong năm 1858, Đô Đốc Rigault de Genouilly lại tấn công Đà Nẵng lần nữa, và trong năm kế tiếp chiếm giữ Sàigòn.  Từ biến cố đó đã khởi sự một chuỗi các sự xâm lấn và sáp nhập mang vài nét tương đồng với sự nghiệp của Pigneau de behaine và chính vua Gia Long trong cuộc chiến của họ chống lại quân Tây Sơn mới sáu mươi ông.  Năm 1864 sứ giả Pháp tại chỗ đã bị khuyến dụ để đồng ý một sự hoàn trả các năm trước đó.  Sàigòn trên nên căn cứ địa; khu vực chinh phục được mở rộng chung quanh nó, và các vùng nội địa bị cắt rời khỏi quyền cai trị của chính quyền ở Huế.  Năm 1862, miền đông của phần được gọi là Nam Kỳ, Sàigòn, Mỹ Tho và Biên Hòa, đã bị nhường cho Pháp bởi Hoàng Đế Tự Đức, người e sợ các sự xâm chiếm hơn nữa nếu ông kháng cự, và các hậu quả của chúng trên sự ổn định nội bộ của chế độ của khu vực này, và đã ký kết một văn kiện như thế.  Hành vi của ông ta bị bác bỏ tại Paris, nơi mà một cuộc vận động chính trị của phe thực dân nhiều quyền thế đang thành hình.  Ba năm sau đó, 1867 thống đốc Pháp tại Sàigòn với đề xuất của mình đã xâm lăng và chiếm đóng, sau đó, sáp nhập phần còn lại của vung châu thổ của Nam Việt Nam đến tận biến giới Căm Bốt.  Cùng lúc một chế độ bảo hộ đã được áp đặt lên trên vương quốc yếu kém Căm Bốt, xứ trong thực tế gần như chào đón sự bảo hộ này, thoát ra khỏi các cuộc xâm lăng của Việt Nam và Thái Lan.

Điều có thể nhận thấy rằng các sự tiến bước quan trọng này của người Pháp đã diễn ra đồng thời với sự suy giảm của quyền lực chính trị của Trung Hoa bởi trước tiên cuộc nổi dậy của Thái Bình Thiên Quốc trong thập niên 50 và những năm đầu của thập niên 60 của thế kỷ và sau đó bởi Cuộc Chiến Tranh Anh - Pháp chống lại Trung Hoa từ 1858 đến 1860, đã áp đặt các hạn chế mới và rộng rãi hơn trên đế quốc đang suy yếu này.  Vua Tự Đức không thể hy vọng sự trợ giúp của Trung Hoa trong thời kỳ khó klhăn này.  Mặt khác, thảm họa chủa chính nước Pháp trong năm 1870 [thất trận trước Đức, chú của người dịch] chỉ đòi hỏi một sự đình chỉ rất tạm thời tiến trình chinh phục và thống trị tại Việt Nam.  Vào năm 1873 chính quyền tại Sàigòn đã đủ mạnh để loại bỏ mọi tàn tích của chính quyền Việt Nam và mang lại chế độ cai trị thực dân trực tiếp của người Pháp.  Các viên chức (“các quan lại”) của Tự Đức đã từ chối hợp tác, và trong nhiều trường hợp, đã rút lui khỏi khu vực; vì thế người Pháp tuyên bố rằng sự kiện này đã tạo ra một khoảng trống chính quyền mà họ phải tự đảm nhận việc lấp đầy.  Họ đã làm; thuế khóa đã tăng gấp mười lần trong hai mươi năm kế đó.  Kỷ nguyên bóc lột của thực dân đã khởi đầu.

Trong cùng năm, 1873, người Pháp lần đầu tiên đã tiến hành chống lại miền bắc Việt Nam, nơi mà một sĩ quan hành động gần như độc lập với chính phủ quê nhà, nhưng không phải là không có sự hậu thuẫn chính trị tại Pháp, đã chiếm đóng Hà Nội.  Anh ta đã bị hạ sát ở đó trong năm sau, và người Pháp đã di tản khỏi thành phố để đổi lấy một hiệp ước mới được ký kết bởi vua Tự Đức chấp thuận mậu dịch mở ngỏ và sư lưu hành tự do trên sông Hồng.  Trong khi đó tại Trung Hoa đã có điều mà các sử gia Trung Hoa mệnh danh là Cuộc Phục Hồi vua Đồng Trị (Phục Hưng là một danh từ đúng hơn) theo sau sự trấn áp cuộc nổi dậy của Thái Bình Thiên Quốc năm 1862 và sự trấn áp kế tiếp các cuộc nổi loạn nhỏ hơn của người Niệm (Nien Fei) tại miền trung Trung Hoa và của người Hồi Giáo tại các tỉnh phía tây và tại Vân Nam.  Triều đình một lần nữa đã nắm được sự kiểm soát tình hình, và các phó vương kinh lược phục hồi chế độ đã thực hiện các nỗ lực thận trọng để hiện đại hóa quân đội và thiết lập ở mức tối thiểu công nghiệp tân tiến, chính yếu cho các sự trang bị vũ khí.  Vua Tự Đức bị khuyến dụ để tin rằng Trung Hoa có thể, sau hết, một lần nữa đưa ra một đối lực trước các sự xâm lược của Pháp.  Trong năm 1880, ông đã phái đi một sứ bộ triều cống, không phải chỉ đến biên giới, như tập quán lâu nay, mà còn đến tận Bắc Kinh.  Điều này hiển nhiên là một sự biểu lộ về mặt chính trị lòng tin tưởng nơi Trung Hoa và một sự thỉnh cầu gián tiếp cho sự bảo hộ của Trung Hoa.  Sự việc này làm tức giận phe thực dân chủ nghĩa của Pháp.

Trong vòng hai năm người Pháp, tố cáo chính quyền Việt Nam đã vi phạm Hiệp Ước (một duyên cớ tiêu chuẩn cho hành động vũ lực tại khắp vùng Viễn Đông trong thời kỳ này), đã chiếm giữ Hà Nội (1882), lần này với ý định ở lại đó; và mặc dù viên chỉ huy cuộc viễn chinh, Rivière, đã bị hạ sát trong năm kế tiếp, người Pháp đã không triệt thoái.  Chiến tranh tại châu thổ Sông Hồng đã tiếp diễn trong gần hai mươi năm, người Pháp đã đụng độ với cuộc kháng chiến du kích được mô tả bởi các người đương thời bằng các từ ngữ có thể được dùng bởi người Hoa Kỳ ngày nay.  Kẻ địch vô hình, biến dạng khi có sự xuất hiện của các lực lượng hùng mạnh, nhưng tái hiện khi các lực lượng này ra đi, những kẻ không thể bị phân biệt khỏi giới nông dân trên các cánh đồng, bởi vì chính anh ta là một người trong họ.  Vua Tự Đức mất năm 1883 và các khó khăn của triều đại trong sự kế vị ông đã mở đường cho người Pháp chiếm đóng Huế và dựng lên một vị hoàng đế bù nhìn.  Một vị tuyên nhận ngôi vị khác đã chạy trốn để lãnh đạo cuộc kháng chiến du kích cho đến khi từ trần [sic, để chỉ vua Hàm Nghi, sau bị bắt và bị đày sang Phi Châu, ND].  Trong khi đó, Trung Hoa đã can thiệp, bằng cả hoạt động của quân du kích phi chính quy được gọi là quân Cờ Đen (tự họ là thối thân của các nhóm Thái Bình Thiên Quốc tỵ nạn chạy trốn vào các vùng đồi núi ở biên giới) lẫn các lực lượng chính quy.  Các lực lượng này đạt được một chiến thắng trên người Pháp tại Lạng Sơn, nhưng bộ chỉ huy của Pháp ở ngoài biển, giúp cho họ có thể pháo kích hải cảng Trung Hoa tại Phúc Châu và tấn công các khu vực duyên hải khác, cộng với các sự bận tâm của Trung Hoa tại Hàn Quốc để đối phó với Nhật Bản, khiến cho Triều Đình Trung Hoa sẵn lòng hòa giải, từ bỏ sự tuyên nhận của nó, kéo dài hàng nghìn năm, về quyền chủ tể trên Việt Nam.  Biến cố này đã chính thức chấm dứt bất kỳ loại thẩm quyền nào tại xứ sở; sự áp đặt chế độ thống trị thực dân trực tiếp của người Pháp tại Bắc Kỳ năm 1887 và quyền lực bảo hộ gia tăng trên đế quốc An Nam thu nhỏ  đặt tại Huế đã kết liễu, trong hơn năm mươi năm, nền độc lập của chính Việt Nam./-   

***

 PHỤ CHÚ CỦA NGÔ BẮC

Trên đây là bản dịch của một công trình nghiên cứu quan trọng, trình bày một cách xúc tích tiến trình hình thành của Việt Nam với các ý nghĩa lịch sử then chốt theo nhịp biến thiên trong tác động của áp lực bành trướng thường trực xuống phía nam của Trung Hoa.  Tác giả, C.P. FitzGerald là một giáo sư người Anh, được nhìn nhận như học giả hàng đầu và đã xuất bản nhiều tác phẩm kinh điển về văn hóa và địa lịch sử Trung Hoa trong thế kỷ thứ 20.  Với sự hiểu biết uyên bác, tác giả đã ghi lại một cái nhìn thấu triệt khi đối chiếu các sự tương tác, các điểm tương đồng và dị biệt trong văn hóa và lịch sử tư tưởng của Trung Hoa và Việt Nam, nước thụ nhận gần như trọn vẹn văn hóa mà người Trung Hoa đã áp đặt lên họ.  Bản dịch hai Chương khác trong cùng tác phẩm của tác giả có liên hệ nhiều đến Việt Nam, Sự Bành Trướng Của Trung Hoa Trên Đất Liền: Trường Hợp Vân Nam và Các Viễn Ảnh Về Sự Bành Trướng Xuống Phía Nam Của Trung Hoa, sẽ lần lượt được đăng tải nơi đây.

Về bản địa nguyên thủy, đặc biệt về biên giới phía bắc của chủng tộc Việt, người dịch xin ghi lại các nhận xét và khám phá mới của khoa học hiện đại, đặc biệt trong nhân chủng học, đã được công bố gần đây như sau:

1. Tác giả Trần Đai Sỹ, trong bài Thử Tìm Lại Biên Giới Cổ Của Việt Nam: Bằng Cổ Sử, Bằng Triết Học Và Hệ Thống ADN (hay DNA trong Anh ngữ) (đã phổ biến và có thể truy cập dễ dàng trên mạng internet), cho rằng:

[bắt đầu trích] “…  Còn trong vòng 5000 năm trước Tây lịch cho đến nay, thì tộc Việt bao gồm trăm giống Việt sống rải rác từ phía nam sông Trường Giang, Đông tới biển, Tây tới Tứ Xuyên, Nam tới vịnh Thái Lan.  Người Việt từ Ngô-Việt di cư xuống phương Nam.  Người Mân Việt đi xuống Giao Chỉ.  Người Việt di cư từ nam sông Trường Giang tránh lạnh xuông Bắc Việt đều đúng.  Đó là những cuộc di cư của tộc Việt trong lãnh thổ của họ, như cuộc di cư từ bắc vào nam năm 1954; chứ không phải họ là người Trung quốc di cư xuông Nam, lập ra nước Việt.” [hết trích]

Tác giả cũng có trưng dẫn các di tích còn lại đến ngày nay như đền có các câu đối thờ Hai bà Trưng tại Bồ Lăng (Fuling) thuộc thành phố Trùng Khánh, tỉnh Tứ Xuyên, ở Trường sa, ở Động Đình Hồ, tỉnh Hồ Nam, Trung Hoa ngày nay,  v.v…  Chúng ta cũng còn các bài thơ của Lê Quý Đôn, Phan Huy Ích viết về các đên thờ Hai bà Trưng ở nam Trung Hoa khi các vị này biết đến trong dịp đi sứ sang Trung Hoa. Các bằng chứng này cho thấy nhiều phần địa bàn tranh đấu của Hai Bà Trưng nằm ở vùng Hoa Nam ngày nay hơn là ở vùng châu thổ sông Hồng như được lưu truyền.

Tác giả đã đề cập đến các cuộc nghiên cứu hệ thông DNA và đã đưa ra các kết luận như sau:

- (bắt đầu trích) “Theo sự nghiên cứu bằng hệ thống AND, từ cổ, giống người Trung Hoa, do giống người từ Đông Nam Á đi lên.  Những người Đông nam Á lại đến từ châu Phi qua ngả nam Á vào thời gian hơn 20,000 năm trước.

- Người châu Phi đến Bắc Trung Hoa do ngả Âu Châu rồi vào Trung Á, khoảng 15,000 năm.  Rồi hai giống người này tạo thành tộc Hoa.” (hết trích)

Rất tiếc là các kết quả nghiên cứu hệ thống DNA đã không được trinh bày giống như trong các cuộc nghiên cưu khoa học khác, vì đây là những bằng chứng khả tỉn nhất, có sức thuyết phục vũng chắc nhất.

2. Tác giả W. W. Howells, trong bài Origins of the Chinese People: Interpretations of the Recent Evidence, đăng tải trong quyển The Origins of Chinese Civilizations, University of California Press: Berkeley, California & London, 1983, đã áp dụng các phương pháp nhân chủng học như đo sọ người thu thập được từ nhiều nơi trên đất Trung Hoa, để lấy số đo của chiều dài, chiều ngang và chiều cao của vòm sọ, chiều dài từ xương chẩm đên đầu mũi; chiều dài từ xương chẩm đến kẽ giữa răng cửa; chiều ngang và chiều dọc của khuôn mặt; chiều dài và chiều ngang của mũi, ổ mắt) (Xem Bảng 11.1 và 11.2 dưới đây).

Điểm 4.6/5 dựa vào 87 đánh giá
  • Bếp Phượng : Giảm giá cho thành viên Click xem
  • Hồng Phượng Store : Giảm giá các mặt hàng cho gia đình Click xem
  • GoodStore.vn : Tinh bột nghệ đang khuyến mãi giá gốc Chi tiết

Bài viết liên quan