Khoa học XHNV

NHO, PHẬT, ĐẠO TRONG THỜI PHONG KIẾN Ở VIỆT NAM 
TS. Dương Quốc Quân

T/c Không gian và thời gian, LB Nga, số 1/2014

Nho giáo cùng với Phật giáo và Đạo giáo du nhập vào Việt Nam từ thời Bắc thuộc, nhưng quá trình đi vào cuộc sống người dân Việt Nam không đồng đều, có sự nhanh chậm khác nhau. Phật giáo ở Việt Nam từ thế kỷ VI – VIII đã phát triển khá mạnh. Ở các triều đại đầu tiên sau khi Việt Nam giành lại được độc lập như Ngô - Đinh - Tiền Lê - Lý - Trần, Phật giáo được coi là quốc giáo. Trong khi đó, phải đến cuối thế kỷ XI, Nho giáo mới bắt đầu được đề cao và đến thế kỷ XV, mới thịnh đạt. Còn Đạo giáo cũng tồn tại thực tế trong xã hội Việt Nam, nhưng chủ yếu là sự ảnh hưởng đến sự mê tín trong nhân dân. 





Nho giáo ở cả Trung Quốc và Việt Nam luôn luôn không phải là một hệ tư tưởng cô lập, nó cùng tồn tại với những hệ tư tưởng khác như Phật giáo, Đạo giáo, Âm dương ngũ hành, v.v…và giữa chúng luôn có sự thẩm thấu, vay mượn và dung hòa lẫn nhau. Tuy nhiên, ở Trung Quốc, sự kết hợp Nho giáo với các hệ tư tưởng khác luôn lấy Nho giáo làm cơ sở; Nho giáo luôn là hệ tư tưởng chính, có vai trò chủ đạo, chi phối tất cả, xuyên suốt lịch sử. Còn ở Việt Nam, từ thế kỷ II đến thế kỷ XIV, Phật giáo là hệ tư tưởng chủ đạo; Nho giáo chỉ giữ vai trò là hệ tư tưởng chủ đạo từ thế kỷ XV đến thế kỷ XIX. “Nếu chủ nghĩa yêu nước là cái nền, là cơ sở để người Việt Nam tiếp nhận các hệ tư tưởng và tôn giáo từ bên ngoài, thì gần hai mươi thế kỷ đầu tiên, chủ nghĩa yêu nước ở Việt Nam là chủ nghĩa yêu nước mang tính chất Phật giáo, còn chủ nghĩa yêu nước từ thế kỷ XV đến thế kỷ XIX là chủ nghĩa yêu nước mang tính chất Nho giáo”. Trong mỗi con người Việt Nam truyền thống, luôn tồn tại hình ảnh của đức Phật (Bụt) và đức Khổng Tử. Đức Phật to hơn nhưng mờ hơn, còn đức Khổng Tử nhỏ hơn nhưng lại rõ hơn.

QUAN NIỆM VỀ THẾ GIỚI CỦA TRIẾT HỌC NHO GIÁO

TS. DƯƠNG QUỐC QUÂN

T/c Các khía cạnh khoa học, Lb Nga

Khổng Tử, Mạnh Tử, Tuân Tử nói về giới tự nhiên không nhiều. Trong học thuyết Nho giáo, trời có ý nghĩa quan trọng bậc nhất. Khổng Tử khi giảng giải đạo lý của mình thường nói đến trời, đạo trời, mệnh trời. Nhưng “Khổng Tử và các đồ đệ gần gũi nhất của ông không nói rõ trời một cách rõ ràng, hệ thống. Họ chỉ vận dụng các phạm trù trời, đạo trời, mệnh trời để làm chỗ dựa mạnh mẽ, thiêng liêng cho học thuyết và đạo lý của mình. Vì vậy, các câu hỏi trời là gì? Do đâu và tại sao mà có? Trời quan hệ với vạn vật, muôn loài như thế nào? thì trong tài liệu kinh điển của Nho gia ít thấy. Riêng những vấn đề về mối quan hệ giữa trời và người thì được nói nhiều, song vẫn không rành mạch và sáng tỏ”. 


GS.TS. Nguyễn Tài Thư - chuyên gia nghiên cứu Nho giáo ở Việt Nam đã nhận định: “Ở Khổng Tử có khi trời cũng là vị chúa tể của vạn vật, là ông thần tối cao có nhân cánh, nhưng có khi trời lại là giới tự nhiên”. Trả lời thắc mắc của học trò về trời, Khổng Tử  nói: “Trời có nói gì đâu ! Bốn mùa vận hành, vạn vật sinh ra và biến đổi mãi. Trời có nói gì đâu” (Luận ngữ, Dương hóa,18). Về sự vận động của vạn vật, ông cho rằng, “cũng như dòng nước chảy, mọi vật đều trôi đi, ngày đêm không ngừng, không nghỉ” (Luận ngữ, Tử Hãn,16). 

NHO GIÁO Ở VIỆT NAM HÔM NAY 
TS. DƯƠNG QUỐC QUÂN
(Hội thảo khoa học quốc tế, LB Nga, 2013)
Kể từ khi xuất hiện ở Trung Quốc tới nay, Nho giáo đã có trên 2500 năm lịch sử. Trong khoảng thời gian lâu dài ấy, Nho giáo có lúc được coi là đỉnh cao của hệ tư tưởng thống trị nhưng cũng có lúc bị phê phán nặng nề, bị coi là nguồn gốc của tư tưởng bảo thủ, lạc hậu. Dù sao chăng nữa, một hiện thực không thể phủ nhận là Nho giáo đã có ảnh hưởng lâu dài và sâu sắc ở Trung Quốc, Việt Nam cũng như một số nước Đông Bắc Á. Hiện nay, những dấu ấn của tư tưởng Nho giáo vẫn còn ảnh hưởng trong xã hội hiện đại, thấm vào đặc tính xã hội-dân tộc của những nước du nhập. Đối với giới nghiên cứu khoa học, Nho giáo là chủ đề ngày càng thu hút sự quan tâm rõ rệt.  Nhiều nhà nghiên cứu xã hội ở Trung Quốc, ở các nước Đông Bắc Á và ở các quốc gia khác nhau trên thế giới đã thông qua việc đánh giá lại Nho giáo để cắt nghĩa sự thành công của Nhật Bản, sự phát triển kinh tế công nghiệp của Hàn Quốc, Đài Loan, Singapo – những quốc gia chịu ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo. Thậm chí có ý kiến cho rằng, Nho giáo là học thuyết của cả nhân loại trong thế kỷ XXI [1]. Thời gian sẽ kiểm chứng điều đó. Tuy nhiên, ngay bây giờ cũng có thể thấy Nho giáo vẫn tác động đến sự phát triển của xã hội con người, với nhiều mức độ và biểu hiện đa dạng.
Là một bộ phận của kiến trúc thượng tầng xã hội, là ý thức hệ và công cụ thống trị của các triều đại phong kiến Việt Nam, Nho giáo đã ảnh hưởng đến nhiều mặt, nhiều lĩnh vực chủ yếu của đời sống xã hội và con người Việt Nam như: Thế giới quan, chính trị - xã hội, đạo đức, giáo dục, pháp luật, phong tục tập quán, tín ngưỡng, văn hóa, v.v. Nhìn chung, “vai trò của Nho giáo ở Việt Nam phụ thuộc vào vai trò lịch sử của giai cấp phong kiến Việt Nam”[5]. Khi giai cấp phong kiến có chiều hướng đi lên, có vị thế vững vàng thì nó chú ý tới các yếu tố biện chứng và nhân văn của Nho giáo, làm cho Nho giáo có nội dung tích cực và tiến bộ. Khi giai cấp phong kiến ở thời kỳ đi xuống, địa vị thống trị bị lung lay, thì nó khai thác những yếu tố bảo thủ, nghiệt ngã vốn có trong Nho giáo như chỗ dựa để củng cố  sự tồn tại, vì vậy Nho giáo lúc đó có tác dụng tiêu cực và kìm hãm. Tình hình trên được thể hiện rõ trong các thời kỳ lịch sử của chế độ phong kiến Việt Nam.
Thời kỳ hiện đại, nhất là trong sự nghiệp đổi mới và phát triển đất nước từ năm 1986 đến nay, Việt Nam luôn coi trọng công tác đổi mới tư duy lý luận nhằm định hướng phát triển đất nước theo con đường riêng bằng chính những giá trị tư tưởng của mình, trong đó tư tưởng triết học dân tộc là cốt lõi. Vì thế, một số nhà nghiên cứu triết học ở Việt Nam đã quan tâm xới lại vấn đề Nho giáo theo phương châm gạn lọc, tiếp thu những nhân tố hợp lý, những giá trị tích cực phổ quát của Nho giáo. Đã xuất bản  nhiều công trình, sách, bài viết nghiên cứu về sự thể hiện của Nho giáo ở Việt Nam trong lịch sử và hiện nay. Có đánh giá đáng chú ý cho rằng: Những hiện tượng tiêu cực đã và đang tồn tại trong xã hội hiện đại; sự xuống cấp của đạo đức; sự yếu kém về kinh tế; sự lạc hậu của khoa học kỹ thuật và giáo dục; sự thiếu tôn trọng kỷ cương và nề nếp từ trong gia đình đến ngoài xã hội, v.v là do trước đây Việt Nam đã phê phán, bài xích Nho giáo một cách phiến diện, không công bằng. Từ đó, theo những nhà nghiên cứu này, để thúc đẩy xã hội phát triển, Việt Nam cần áp dụng triệt để công thức: “Gắn kỹ thuật, công nghệ phương Tây với Nho giáo và mô hình quản lý xã hội ở những nước phát triển có truyền thống Nho giáo” [7] v.v.

GS Nguyễn Tài Thư - Một trong những nhà nghiên cứu hàng đầu về Nho giáo và Nho giáo tại Việt Nam, từng nhận định: Từ yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam hiện nay, nhìn về truyền thống nho giáo, chúng tôi thấy vẫn còn có nhiều điều có thể tiếp tục khai thác được. Đó là quan niệm xem nhân dân là gốc của đất nước. Đó là các quan niệm về con người, như cho rằng con người sống trong xã hội là có mối quan hệ và nghĩa vụ với người khác, với xã hội; cho rằng con người muốn có cuộc sống tốt thì phải giữ được sự hài hòa trong bản thân mình, trong quan hệ với xã hội và với tự nhiên. Đó là yêu cầu phải thường xuyên rèn luyện bản thân: sống có lý tưởng, sống góp phần thực hiện một xã hội thái bình thịnh trị, sống để thực hiện thế giới đại đồng, v.v; sống phải có nhân cách cao cả của người trí thức, người quân tử; sống với yêu cầu và trách nhiệm ngày một cao: tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ không phải bằng sức mạnh vũ lực, bằng quân sự mà bằng những việc làm có tính thuyết phục, bằng đạo đức gương mẫu; sống biết đối xử hợp lý giữa nghĩa vụ và quyền lợi, v.v. Đó còn là các phạm trù: nhân, nghĩa, lễ, trung, hiếu, trí, dũng, cần cù, tiết kiệm, liêm khiết, chính trực, v.v. Những phương diện trên của Nho giáo, ngày nay vẫn còn có ý nghĩa tích cực của nó, vẫn còn tác dụng tốt với việc rèn luyện con người. (...)